CHIẾN CÔNG VẺ VANG  CỦA LỮ ĐOÀN 126 HẢI QUÂN – ĐƠN VỊ 3 LẦN ANH HÙNG LLVTND

       {Hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Lữ đoàn 126 Hải quân (13/4/966-13/4/2026)}     

                                                                        Nguyễn Văn Đấu

Lữ đoàn 126 Đặc công Hải quân mà tiền thân là Đoàn Huấn luyện trinh sát Đặc công Hải quân 126, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, được Bộ Quốc phòng quyết định thành lập ngày 13/4/1966 trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt. Đây cũng là đơn vị đặc công đầu tiên của Quân đội ta được chính thức thành lập.

Ngay sau khi thành lập, đơn vi tập trung huấn luyện bơi, bắn súng, sử dụng mìn, thuỷ lôi, thuốc nổ, tập đánh tàu, kỹ thuật ngụy trang, thể lực…tại căn cứ chính ở Hải Phòng – Quảng Ninh. Ban đầu đơn vị chỉ có 4 đội, sau đó phát triển thành 10 đội (3 tiểu đoàn). Tháng 10 năm 1966 đơn vị được lệnh đưa lực lượng vào chiến trường miền Nam chiến đấu.

Với địa thế nằm sát vĩ tuyến 17 – ranh giới hai miền Nam – Bắc nước ta, chiến trường B5 – Bắc Quảng Trị là nơi thử lửa gay go và tranh giành quyết liệt nhất giữa ta và địch. Nơi đây được ví như “Cái dạ dày” tập kết lực lượng, vũ khí trang bị của quân đội Mỹ – ngụy và trở thành chiến trường khốc liệt khi cả hai bên địch – ta đều muốn chọn để tập kết nguồn lực chi viện cho chiến trường.

Địa bàn tác chiến của đơn vị chủ yếu là khu vực cảng Cửa Việt – Đông Hà, dài khoảng 17 km ở hạ lưu sông Hiếu, còn gọi là sông Cửa Việt (phụ lưu của sông Thạch Hãn). Đơn vị thực hiện “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”, tức là từ căn cứ địa ở đặc khu Vĩnh Linh, bộ đội phải vượt sông Bến Hải, bám theo địa bàn ven biển, hành quân bí mật, vừa làm nhiệm vụ chiến đấu vừa xây dựng cơ sở trong lòng dân để bám địch, đánh địch.

Để đánh một mục tiêu là tàu hay cầu giao thông của địch…, ngoài việc nhận chỉ thị, thông báo của trên, đơn vị còn phải độc lập hoặc phối hợp với lực lượng du kích và bộ đội địa phương trực tiếp trinh sát, nắm chắc lực lượng, ý đồ của chúng, công tác bố phòng, quy luật và khả năng hoạt động vận tải cũng như khả năng tác chiến của chúng. Để đối phó với lực lượng đặc công của ta, các tàu vận tải của địch khi cơ động thường được các lực lượng tàu chiến, pháo binh, bộ binh và trực thăng yểm trợ. Vị trí neo đậu của tảu vận tải thường được chọn ở ngoài cửa biển, cách bờ từ 5 đến 10km, thậm chí xa hơn, tùy theo tính chất công việc và hàng hóa chuyên chở. Xung quanh tàu này được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các tàu chiến, trực thăng, pháo binh của địch. Ban đêm, các tàu vận tải sử dụng đèn pha công suất lớn (500W trở lên) quét lên mặt nước xung quanh tàu. Lính trên tàu thay phiên nhau canh gác và thường xuyên bắn súng, ném lựu đạn với tần suất 15-30 phút một lần xuống mặt nước xung quanh tàu, cách tàu vài chục mét; thậm chí địch còn bố trí cả lưới chống người nhái hoặc bố trí các đội người nhái để kiểm tra thân tàu và truy bắt chiến sĩ đặc công của ta khi cần thiết…

Đêm 31 tháng 3 năm 1967, sau khi “lót ổ” thành công, một tổ 3 người của  Đội 1 sử dụng mìn rùa với chiến thuật luồn sâu đánh hiểm, bí mật phá hủy, cán bộ chiến sĩ Đặc công Hải quân đã dùng kỹ thuật bơi thả (ngậm ống thở)  để đến nơi có tàu địch ở phía ngoài Cửa Việt, gắn mìn rùa, rút chốt an toàn và chốt hẹn giờ và bơi về vị trí ẩn nấp. Mìn phát nổ đánh chìm chiếc tàu cuốc 70 tấn của địch. Đây là trận đánh đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tham mưu đề ra phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến cho đơn vị. Kể từ đó, đơn vị đã sử dụng kỹ thuật CK1 và CK2 thả thuỷ lôi hoặc gắn mìn vào thân tàu địch, dùng hoả lực mạnh trên bờ bắn tàu địch cơ động trên sông, dựng chướng ngại vật, nghi binh, kết hợp đánh luồn sâu, đánh rộ từng thời gian…

Các năm 1967 – 1973, với ý chí chiến đấu kiên cường, mưu trí, sáng tạo, bám sát chiến trường, dựa vào dân và có phương thức tác chiến độc đáo: lấy ít đánh nhiều, luồn sâu đánh hiểm; lấy yếu tố bí mật bất ngờ để làm nên sức mạnh, lấy bản lĩnh và ý chí con người làm nhân tố quyết định để giành thắng lợi, đơn vị (tương đương cấp trung đoàn) đã tham gia chiến đấu liên tục trên chiến trường Cửa Việt – Đông Hà, đánh hơn 300 trận, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (chủ yếu là tàu vận tải quân sự, trong đó có tàu chở dầu với trọng tải 15.000 tấn); phá hủy hàng vạn tấn vũ khí; tiêu diệt hàng nghìn tên Mỹ-ngụy; tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có Chiến dịch Trị – Thiên (Chiến dịch Xuân – Hè, giải phóng Quảng Trị năm 1972), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975), Giải phóng và giữ vững chủ quyền Quần đảo Trường Sa. Đơn vị được ví như đội quân “ngầm”, những “Yết Kiêu” của thời đại. Đơn vị cũng đã huấn luyện trên 5.000 cán bộ, chiến sĩ đặc công nước để gửi đến các chiến trường miền Nam, từ cửa Thuận An – Huế đến Đà Nẵng, vào tận Rừng Sác, sông Lòng Tàu – của ngõ Sài Gòn và các chiến trường ven biển Nam Bộ để đánh địch; xây nên truyền thống: “Anh dũng mưu trí, khắc phục khó khăn, đoàn kết lập công, chiến thắng liên tục”. Ngày 13/4/1966 trở thành ngày truyền thống của đơn vị, mở đầu quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Đặc công Hải quân.

Sau ngày giải phóng miền Nam, đơn vị được củng cố và phát triển thành Lữ đoàn 126. Trong thời kỳ đổi mới, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ của Lữ doàn tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng và tinh thần “Đánh trận đầu phải chiến thắng”; chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết, sáng tạo, sẵn sàng hy sinh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc. Nhiều năm qua đơn vị tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng trong thời bình. Cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Tăng cường huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và làm chủ trang bị kỹ thuật hiện đại; tham gia công tác tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân dân trong thiên tai, bão lũ và sự cố trên biển, hồ. Đồng thời, đơn vị cũng xây dựng tiêu chí “5 giỏi” (bơi lặn giỏi, bắn giỏi, võ thuật giỏi, tác chiến giỏi và giỏi chịu đựng khó khăn gian khổ” và “2 keo sơn” (nghĩa tình đồng đội và nghĩa tình quân dân gắn bó) trong huấn luyện và tác chiến; được Đảng, Nhà nước, quân đội và Nhân dân cả nước đánh giá cao.

Đơn vị được phong tặng 3 lần danh hiệu Anh hùng LLVTND (các năm 1969, 1971, 2020). 04 tập thể và 13 cá nhân được phong Anh hùng LLVTND, trong đó Đại đội 1 Đặc công Hải quân 3 lần vinh dự nhận danh hiệu này. Hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương, Huy chương và Bằng khen trong các thời kỳ chiến đấu và phục vụ chiến đấu./.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*