PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
- Vai trò của kinh tế biển trong bối cảnh phát triển mới
Bước sang thế kỷ XXI, kinh tế biển trở thành một trong những không gian phát triển chiến lược quan trọng nhất của thế giới. Dưới tác động của toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, quan niệm về kinh tế biển đã có sự thay đổi căn bản. Nếu như trước đây, biển chủ yếu được nhìn nhận như không gian khai thác tài nguyên và vận tải hàng hải, thì hiện nay biển đang được tiếp cận như một hệ sinh thái phát triển tổng hợp, tích hợp giữa công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, logistics quốc tế, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và kinh tế sáng tạo. Nói cách khác, kinh tế biển toàn cầu đang chuyển mạnh từ mô hình “khai thác biển” sang mô hình “kiến tạo giá trị từ biển”.
Xu hướng nổi bật nhất hiện nay là sự chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên đại dương ngày càng nghiêm trọng, các quốc gia ngày càng coi trọng việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái biển, giảm phát thải carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển. Vì vậy, các ngành kinh tế biển có hàm lượng công nghệ cao, tiêu hao ít tài nguyên và phát thải thấp đang dần trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo của nền kinh tế biển hiện đại. Trong xu thế đó, năng lượng tái tạo ngoài khơi nổi lên như một trụ cột chiến lược mới của kinh tế biển. Điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh và các ngành công nghiệp carbon thấp không chỉ tạo ra nguồn năng lượng sạch quy mô lớn mà còn thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái công nghiệp mới gồm cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng biển chuyên dụng và dịch vụ kỹ thuật đại dương. Song song với đó là sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt về logistics và cảng biển quốc tế. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, năng lực kiểm soát các tuyến vận tải biển, trung tâm trung chuyển hàng hóa và chuỗi logistics quốc tế đang trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và ảnh hưởng chiến lược của quốc gia.
Cùng với chuyển đổi năng lượng và logistics, kinh tế số biển và công nghệ đại dương cũng đang phát triển mạnh mẽ. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vệ tinh, robot biển, internet vạn vật và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị và khai thác biển. Dữ liệu và công nghệ đang trở thành nền tảng cốt lõi của kinh tế biển hiện đại, giúp nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, tối ưu hóa logistics, dự báo môi trường biển và bảo đảm an ninh hàng hải. Nhiều quốc gia đã bắt đầu xây dựng mô hình “đại dương thông minh”, trong đó năng lực công nghệ trở thành yếu tố quyết định vị thế cạnh tranh quốc gia trên biển.
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo toàn cầu phát triển mạnh, công nghiệp văn hóa biển đang nổi lên như một lĩnh vực tăng trưởng mới có giá trị gia tăng cao. Nhiều quốc gia đã chuyển hóa các giá trị văn hóa biển, lịch sử hàng hải, di sản biển đảo và bản sắc đại dương thành các ngành công nghiệp có sức lan tỏa lớn như điện ảnh, du lịch trải nghiệm, nghệ thuật, truyền thông số và giải trí biển. Điều đó cho thấy kinh tế biển hiện đại không chỉ được đo bằng sản lượng khai thác hay quy mô thương mại mà còn bằng năng lực sáng tạo, khả năng xây dựng thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm quốc tế.
Những xu hướng phát triển đó đang tạo ra cả thời cơ và thách thức lớn đối với Việt Nam. Với hơn 3.260 km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km², gấp khoảng ba lần diện tích đất liền và vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển hiện đại. Biển không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các trung tâm công nghiệp, đô thị, cảng biển, logistics và hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay đều tập trung ở khu vực ven biển. Các hành lang kinh tế ven biển đang từng bước hình thành cấu trúc không gian phát triển mới của nền kinh tế quốc gia, trong đó biển giữ vai trò là trục liên kết chiến lược giữa phát triển trong nước với kinh tế khu vực và toàn cầu…..
Trong giai đoạn phát triển mới, kinh tế biển ngày càng giữ vai trò là không gian tăng trưởng chiến lược của Việt Nam. Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, biển nổi lên như một trong những động lực phát triển mới có khả năng tạo ra bước chuyển căn bản về quy mô kinh tế, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Không chỉ tạo không gian phát triển mới, kinh tế biển còn là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Với lợi thế nằm trên tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu kết nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Việt Nam có tiềm năng trở thành trung tâm logistics, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ hàng hải quan trọng của khu vực nếu tận dụng tốt vị trí địa kinh tế chiến lược của mình.
Đặc biệt, trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và chuyển đổi năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam có cơ hội lớn để phát triển các ngành kinh tế biển mới, như: logistics quốc tế, cảng biển trung chuyển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp công nghệ biển, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam có tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 475 GW – thuộc nhóm quốc gia có tiềm năng lớn nhất Đông Nam Á. Đây không chỉ là cơ sở để bảo đảm an ninh năng lượng mà còn mở ra khả năng hình thành các chuỗi công nghiệp năng lượng biển mới có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Bên cạnh vai trò kinh tế, biển còn có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế biển luôn gắn chặt với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình và bảo đảm lợi ích quốc gia trên biển. Trong điều kiện cạnh tranh địa – chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, sự phát triển của kinh tế biển không chỉ tạo nguồn lực vật chất cho đất nước mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, tăng cường hiện diện kinh tế và dân sự trên các vùng biển, đảo.
Đồng thời, kinh tế biển còn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế và sức mạnh mềm quốc gia. Việc phát triển du lịch biển, công nghiệp văn hóa biển, các đô thị biển hiện đại và thương hiệu quốc gia biển sẽ góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao sức hấp dẫn và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn với năng lực sáng tạo, khả năng kết nối và sức mạnh mềm quốc gia, đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nếu tiếp tục phát triển theo mô hình dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và tăng trưởng theo chiều rộng, kinh tế biển Việt Nam sẽ khó tạo được đột phá chiến lược. Những hạn chế về thể chế quản trị biển, hạ tầng logistics, công nghệ biển, chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi số và mức độ liên kết vùng đang trở thành các điểm nghẽn lớn đối với phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay. Đồng thời, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và cạnh tranh địa chính trị trên Biển Đông cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với phát triển bền vững và bảo đảm an ninh quốc gia trên biển.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, phát triển các động lực kinh tế mới dựa trên động lực chủ yếu là khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh; trong đó xác định “Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển sâu để khai thác, sử dụng hiệu quả không gian biển”1. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuyển đổi căn bản mô hình phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, số và bền vững; lấy công nghiệp biển công nghệ cao, logistics quốc tế, năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển làm các trụ cột tăng trưởng mới. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường tự chủ chiến lược về kinh tế, củng cố chủ quyền biển đảo và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong giai đoạn phát triển mới.
- Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít quốc gia ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có sự hội tụ đồng thời của nhiều lợi thế chiến lược về vị trí địa kinh tế, không gian biển, tài nguyên tự nhiên, hệ thống ven biển và chiều sâu văn hóa biển, đảo. Trong bối cảnh kinh tế biển đang trở thành động lực phát triển mới của thế giới, những lợi thế đó tạo cho Việt Nam tiềm năng lớn để hình thành mô hình kinh tế biển hiện đại dựa trên công nghiệp, logistics, năng lượng tái tạo, kinh tế số và công nghiệp sáng tạo biển.
Thứ nhất, Việt Nam có tiềm năng đặc biệt lớn về vị trí địa kinh tế và không gian biển chiến lược. Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp Biển Đông – một trong những tuyến hàng hải quan trọng và nhộn nhịp nhất thế giới. Theo nhiều nghiên cứu quốc tế, khoảng 50% lượng hàng hóa vận tải biển toàn cầu đi qua khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Biển Đông; riêng giá trị thương mại lưu thông qua Biển Đông mỗi năm ước đạt khoảng 3.000 – 5.000 tỷ USD 2. Đây là tuyến kết nối chiến lược giữa Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, giữa Đông Á với châu Âu, Trung Đông và châu Phi. Với vị trí nằm trên trục giao thương này, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để trở thành đầu mối trung chuyển logistics, dịch vụ hàng hải và thương mại quốc tế của khu vực.
Theo thống kê, 22/34 tỉnh, thành phố hiện nay của Việt Nam có biển; khu vực ven biển hiện là nơi sinh sống của khoảng hơn 50% dân số và đóng góp phần lớn các hoạt động thương mại quốc tế của đất nước 3. Không gian biển rộng lớn này không chỉ tạo dư địa phát triển kinh tế mà còn mở ra khả năng tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng “tiến ra biển”, lấy biển làm trục động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên mới.
Cùng với lợi thế địa chiến lược, Việt Nam sở hữu hệ thống cảng biển phân bố rộng khắp với 34 cảng biển và gần 300 bến cảng lớn nhỏ trải dài từ Bắc vào Nam. Một số cụm cảng nước sâu như Hải Phòng, Cái Mép – Thị Vải, Vân Phong, Đà Nẵng có khả năng tiếp nhận tàu container trọng tải lớn từ 100.000 DWT trở lên. Đặc biệt, cụm cảng Cái Mép – Thị Vải hiện là một trong số ít cảng của khu vực Đông Nam Á có khả năng tiếp nhận tàu container siêu lớn đi thẳng tới châu Âu và Bắc Mỹ. Theo Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng), sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam năm 2024 đạt trên 860 triệu tấn. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn để Việt Nam phát triển logistics biển và từng bước hình thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế trong tương lai 4.
Thứ hai, Việt Nam có tiềm năng nổi bật về tài nguyên biển và năng lượng biển. Tiềm năng chiến lược lớn của Việt Nam hiện nay nằm ở các lĩnh vực năng lượng tái tạo ngoài khơi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi lên tới khoảng 475 GW – thuộc nhóm quốc gia có tiềm năng lớn nhất Đông Nam Á. Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đây là lợi thế chiến lược đặc biệt quan trọng để Việt Nam phát triển nền kinh tế carbon thấp và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng sạch toàn cầu 5. Không chỉ tạo ra nguồn điện sạch quy mô lớn, điện gió ngoài khơi còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mới như cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, hydrogen xanh, dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi và logistics năng lượng biển. Theo dự báo của nhiều tổ chức nghiên cứu năng lượng quốc tế, ngành điện gió ngoài khơi có thể tạo ra hàng trăm nghìn việc làm kỹ thuật cao và hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới cho Việt Nam trong vài thập niên tới 6.
Về trữ lượng dầu khí, Biển Đông được đánh giá là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính ở Biển Đông có 900.000 tỷ feet khối trữ lượng khí đốt tự nhiên và dầu mỏ, tương đương 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bế trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3. Đây là một nguồn tài nguyên vô cùng quý báu cho phát triển và tạo đột phá về kinh tế cho Việt Nam 7. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, dầu khí vẫn là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, an ninh năng lượng và phát triển công nghiệp quốc gia.
Về tài nguyên băng cháy, khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần, được Cục Địa chất Hoa Kỳ (USGS) đánh giá đứng hàng thứ năm ở châu Á về tiềm năng băng cháy. Các vùng biển Việt Nam có tiềm năng cao về băng cháy được sắp xếp theo thứ tự: (1) Đông Bắc bể Nam Côn Sơn; (2) trũng Vũng Mây; (3) trung tâm bế Phú Khánh; (4) Tây Hoàng Sa; khu vực Đông Bắc bể Nam Côn Sơn là vùng có triển vọng cao nhất 8.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn nằm trong nhóm các quốc gia có tính đa dạng sinh học biển cao trên thế giới với khoảng 11.000 loài sinh vật biển đã được ghi nhận. Hệ sinh thái biển nhiệt đới phong phú gồm rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn và vùng biển nhiệt đới mở ra tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế sinh học biển, nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển và các ngành kinh tế xanh gắn với bảo tồn hệ sinh thái đại dương. Đây là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và phù hợp với xu thế phát triển bền vững hiện nay.
Thứ ba, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp biển hiện đại và các chuỗi giá trị biển mới. Trong xu hướng phát triển toàn cầu, công nghiệp đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các quốc gia biển. Với lợi thế không gian ven biển rộng lớn và vị trí giao thương quốc tế thuận lợi, Việt Nam có điều kiện phát triển nhiều ngành công nghiệp chiến lược như công nghiệp năng lượng biển, công nghiệp đóng tàu, cơ khí biển, công nghiệp logistics, công nghiệp chế biến và công nghiệp công nghệ biển.
Đặc biệt, logistics và cảng biển được xem là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng nhất. Hiện nay, trong cơ cấu vận chuyển hàng hóa của Việt Nam, vận tải biển tiếp tục giữ vai trò chủ đạo khi chiếm khoảng 60% khối lượng hàng xuất khẩu và 54% hàng nhập khẩu 9. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, nếu phát triển đồng bộ hệ thống cảng nước sâu, logistics thông minh và hạ tầng kết nối liên vùng, Việt Nam có khả năng trở thành trung tâm logistics quan trọng của Đông Nam Á. Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa và internet vạn vật đang mở ra khả năng hình thành các ngành công nghiệp công nghệ biển và kinh tế số biển – những lĩnh vực được xem là động lực tăng trưởng mới của kinh tế đại dương toàn cầu.
Thứ tư, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa biển đặc sắc, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa biển và kinh tế sáng tạo biển. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, biển đã trở thành một bộ phận quan trọng trong không gian văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam. Hệ thống lễ hội biển, không gian văn hóa làng biển, di sản thương cảng cổ như Hội An, Vân Đồn, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa chủ quyền biển, đảo và tri thức dân gian đi biển tạo nên kho tàng văn hóa biển có giá trị lớn cả về lịch sử, xã hội và kinh tế.
Hiện nay, du lịch biển đóng góp khoảng 70% tổng doanh thu du lịch cả nước10; nhiều trung tâm du lịch biển như Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc đã trở thành thương hiệu quốc tế. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch văn hóa biển chất lượng cao gắn với kinh tế trải nghiệm, kinh tế đêm và hệ sinh thái sáng tạo ven biển. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số cũng mở ra dư địa lớn cho các ngành công nghiệp nội dung số biển như điện ảnh biển, game, thực tế ảo (VR/AR), bảo tàng số và truyền thông số về biển đảo. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa biển không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia biển Việt Nam và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn với năng lực sáng tạo và ảnh hưởng văn hóa, việc phát triển các sản phẩm văn hóa biển mang tầm quốc tế sẽ góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao nhận thức cộng đồng về biển đảo và củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, Việt Nam đang sở hữu những điều kiện đặc biệt thuận lợi để phát triển kinh tế biển hiện đại với các trụ cột chiến lược gồm công nghiệp biển, logistics biển, năng lượng tái tạo, kinh tế số biển và công nghiệp văn hóa biển. Nếu có thể chuyển hóa hiệu quả các tiềm năng đó thành năng lực phát triển thực tế thông qua đổi mới thể chế, phát triển hạ tầng chiến lược, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
- Vai trò của công nghiệp trong tạo động lực tăng trưởng kinh tế biển
Trong xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới, công nghiệp đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của các quốc gia biển. Nếu như trong giai đoạn trước, tăng trưởng kinh tế biển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên tự nhiên và lợi thế địa lý, thì hiện nay, động lực cốt lõi của kinh tế biển hiện đại lại nằm ở trình độ công nghiệp hóa, năng lực công nghệ và khả năng tổ chức các chuỗi giá trị biển có hàm lượng tri thức cao. Điều này cho thấy, muốn phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở khai thác lợi thế tự nhiên mà phải lấy công nghiệp làm trụ cột trung tâm của quá trình tái cấu trúc không gian kinh tế biển quốc gia. Vai trò của công nghiệp trong tạo động lực kinh tế biển thể hiện ở những nội dung sau:
Trước hết, công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra giá trị gia tăng cao cho kinh tế biển. Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình kinh tế biển truyền thống và kinh tế biển hiện đại nằm ở chỗ: thay vì xuất khẩu tài nguyên thô hoặc khai thác các ngành giá trị thấp, các quốc gia phát triển đang tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp biển công nghệ cao nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng từ tài nguyên, không gian và dữ liệu biển. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các ngành tạo ra giá trị lớn nhất trong kinh tế biển hiện nay không còn là khai thác đơn thuần mà là công nghiệp năng lượng ngoài khơi, logistics biển, công nghệ đại dương, cơ khí biển, công nghiệp vật liệu, công nghệ sinh học biển và các ngành công nghiệp sáng tạo biển. Đối với Việt Nam, việc phát triển các ngành công nghiệp biển hiện đại không chỉ giúp nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên mà còn tạo ra nền tảng mới cho tăng trưởng dài hạn, nâng cao năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Thứ hai, công nghiệp biển giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của kinh tế biển Việt Nam. Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế biển của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng quy mô theo chiều rộng. Mô hình này đang bộc lộ ngày càng rõ những giới hạn về hiệu quả kinh tế, sức cạnh tranh và tính bền vững. Trong khi đó, công nghiệp biển hiện đại đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học -công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh. Đây không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu ngành mà còn là sự chuyển đổi về chất của nền kinh tế biển. Sự phát triển của các ngành như điện gió ngoài khơi, logistics thông minh, công nghệ đại dương, dữ liệu biển hay công nghiệp sinh học biển sẽ tạo ra những ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của nền kinh tế quốc gia.
Thứ ba, ở tầm chiến lược rộng hơn, công nghiệp biển có vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và cạnh tranh địa kinh tế ngày càng gay gắt. Trong nền kinh tế hiện đại, khả năng kiểm soát logistics, năng lượng, công nghệ và dữ liệu biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Những quốc gia có hệ sinh thái công nghiệp biển mạnh thường đồng thời là những quốc gia có vị thế lớn trong thương mại quốc tế, chuỗi cung ứng toàn cầu và cấu trúc kinh tế khu vực. Đối với Việt Nam, phát triển công nghiệp biển không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng mà còn là điều kiện để nâng cao vị thế quốc gia biển, gia tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động toàn cầu và mở rộng không gian phát triển chiến lược trong dài hạn.
Thứ tư, công nghiệp thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị biển mới – yếu tố cốt lõi của kinh tế biển hiện đại. Trong xu hướng phát triển hiện nay, giá trị lớn nhất của kinh tế biển không nằm ở từng ngành riêng lẻ mà nằm ở khả năng liên kết giữa các ngành để hình thành hệ sinh thái kinh tế biển tích hợp. Trong đó, chuỗi năng lượng biển được xem là một trong những chuỗi giá trị chiến lược nhất. Việc phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ dừng ở sản xuất điện mà còn kéo theo sự phát triển của cơ khí biển, đóng tàu chuyên dụng, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng biển kỹ thuật và dịch vụ vận hành ngoài khơi. Nếu được tổ chức bài bản, đây có thể trở thành hệ sinh thái công nghiệp mới có khả năng lan tỏa mạnh tới toàn bộ nền kinh tế.
Cùng với chuỗi năng lượng biển, chuỗi logistics và cảng biển cũng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, logistics không còn là hoạt động hỗ trợ thương mại đơn thuần mà đã trở thành một ngành công nghiệp có giá trị gia tăng rất lớn. Sự phát triển của cảng biển hiện đại, logistics thông minh, trung tâm trung chuyển quốc tế và hệ thống vận tải biển tích hợp sẽ giúp Việt Nam nâng cao vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng là lĩnh vực có tác động lan tỏa mạnh đến thương mại, công nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ năm, sự phát triển của công nghệ số và khoa học đại dương đang mở ra khả năng hình thành chuỗi công nghiệp công nghệ biển – lĩnh vực được xem là “kinh tế biển của tương lai”. Các ngành như dữ liệu đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, robot biển, công nghệ giám sát biển, internet vạn vật biển và công nghệ vật liệu biển sẽ trở thành những ngành kinh tế có vai trò ngày càng lớn trong cấu trúc kinh tế toàn cầu. Song song với đó, chuỗi công nghiệp sinh học biển cũng đang nổi lên như một lĩnh vực giàu tiềm năng nhờ khả năng tạo ra các sản phẩm có giá trị cao trong y dược, thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học và nuôi biển công nghệ cao. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá lớn cho tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn biển của Việt Nam trong tương lai.
Thứ sáu, bên cạnh các ngành công nghiệp vật chất, công nghiệp văn hóa biển đang ngày càng khẳng định vai trò là “động lực mềm” của kinh tế biển hiện đại. Trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu, giá trị kinh tế không chỉ được tạo ra từ tài nguyên vật chất mà còn từ bản sắc văn hóa, sức sáng tạo và khả năng xây dựng thương hiệu quốc gia. Đối với Việt Nam, hệ thống di sản biển đảo, lễ hội biển, văn hóa làng biển, lịch sử hàng hải và không gian văn hóa đại dương là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo biển. Việc chuyển hóa các giá trị văn hóa biển thành sản phẩm du lịch, điện ảnh, nghệ thuật, truyền thông số, festival quốc tế hay kinh tế trải nghiệm không chỉ tạo ra nguồn thu kinh tế mới mà còn góp phần định vị thương hiệu quốc gia biển Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Không chỉ tạo giá trị kinh tế, công nghiệp văn hóa biển còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế trải nghiệm – xu hướng đang ngày càng phát triển mạnh trên thế giới. Khác với các ngành khai thác tài nguyên truyền thống, công nghiệp văn hóa có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao nhưng tiêu hao ít tài nguyên tự nhiên, đồng thời góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa và hệ sinh thái biển. Đây là hướng phát triển đặc biệt phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Quan trọng hơn, công nghiệp văn hóa biển còn có ý nghĩa chiến lược trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia và củng cố chủ quyền biển, đảo. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn với sức mạnh mềm, các sản phẩm văn hóa biển có khả năng lan tỏa hình ảnh quốc gia, nâng cao nhận thức xã hội về biển đảo và củng cố bản sắc quốc gia biển Việt Nam. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề văn hóa, chính trị và chiến lược quốc gia trong dài hạn.
Thứ bảy, sự phát triển của công nghiệp biển và các chuỗi giá trị biển mới cũng đang tạo điều kiện để hình thành các cực tăng trưởng biển mới của Việt Nam. Khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh đang nổi lên như trung tâm cảng biển, logistics và công nghiệp biển lớn nhất miền Bắc, đồng thời là cửa ngõ kết nối Việt Nam với thị trường Đông Bắc Á. Đà Nẵng và miền Trung có tiềm năng phát triển thành trung tâm logistics, công nghệ biển và dịch vụ biển quốc tế nhờ vị trí trung chuyển chiến lược trên hành lang kinh tế Đông – Tây. Khánh Hòa và Nam Trung Bộ có lợi thế đặc biệt về cảng nước sâu, kinh tế biển công nghệ cao và du lịch biển quốc tế. Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp tục giữ vai trò trung tâm dầu khí, năng lượng và logistics biển lớn nhất cả nước, đồng thời có tiềm năng trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng ngoài khơi trong tương lai. Trong khi đó, Phú Quốc và không gian biển Tây Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển cao cấp, kinh tế sáng tạo biển và trung tâm dịch vụ biển quốc tế gắn với kinh tế xanh.
Nhìn tổng thể, công nghiệp không chỉ là một bộ phận của kinh tế biển mà đang trở thành động lực trung tâm quyết định chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia biển của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Phát triển công nghiệp biển hiện đại, công nghệ cao, xanh và sáng tạo chính là điều kiện then chốt để Việt Nam hình thành mô hình kinh tế biển mới, tạo ra các cực tăng trưởng chiến lược và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
- Định hướng và giải pháp đột phá phát triển kinh tế biển, công nghiệp biển theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Trong bối cảnh kinh tế biển đang trở thành không gian chiến lược của cạnh tranh và phát triển toàn cầu, việc khai thác hiệu quả tiềm năng biển không còn chỉ là vấn đề mở rộng quy mô kinh tế mà đã trở thành yêu cầu mang tính chiến lược đối với quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và các động lực tăng trưởng mới. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có những đột phá mạnh mẽ trong tư duy phát triển, thể chế quản trị và tổ chức không gian kinh tế biển nhằm hình thành mô hình kinh tế biển hiện đại, có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Trước hết, yêu cầu có tính nền tảng là phải đổi mới căn bản tư duy phát triển kinh tế biển. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về chính sách mà là sự chuyển đổi mang tính chiến lược về mô hình phát triển quốc gia. Nếu như trước đây kinh tế biển chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên tự nhiên và tăng trưởng theo chiều rộng, thì trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh sang mô hình “kiến tạo kinh tế biển” dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh. Điều này có nghĩa là biển phải được nhìn nhận không chỉ như nguồn tài nguyên mà còn là không gian của công nghiệp hiện đại, của kinh tế số, năng lượng tái tạo, logistics quốc tế và công nghiệp sáng tạo. Chỉ khi chuyển đổi được tư duy phát triển theo hướng đó, Việt Nam mới có thể vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị biển toàn cầu.
Thứ hai, trên nền tảng đổi mới tư duy phát triển, cần tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp biển quốc gia như một trụ cột chiến lược của nền kinh tế biển hiện đại. Trong xu hướng chuyển đổi năng lượng toàn cầu, Việt Nam cần ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng ngoài khơi, đặc biệt là điện gió ngoài khơi và hydrogen xanh, coi đây là động lực mới của quá trình công nghiệp hóa xanh. Không chỉ dừng lại ở phát triển nguồn điện, cần hình thành toàn bộ chuỗi công nghiệp hỗ trợ gồm cơ khí biển, vật liệu mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, cảng chuyên dụng và dịch vụ kỹ thuật đại dương. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam không chỉ trở thành quốc gia sản xuất năng lượng sạch mà còn tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp năng lượng mới của thế giới.
Thứ ba, cần đẩy mạnh phát triển hệ thống logistics và cảng biển quốc tế theo hướng hiện đại, thông minh và có tính kết nối toàn cầu. Với vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có tiềm năng trở thành trung tâm logistics biển của khu vực nếu xây dựng được hệ thống cảng nước sâu hiện đại, logistics số và hạ tầng vận tải liên vùng đồng bộ. Trong bối cảnh cạnh tranh chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt, năng lực logistics không chỉ là yếu tố hỗ trợ thương mại mà đã trở thành cấu phần cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ tư, một định hướng có ý nghĩa chiến lược lâu dài khác là phát triển công nghiệp công nghệ biển và dữ liệu biển. Trong thời đại kinh tế số, dữ liệu và công nghệ đang trở thành nền tảng của quản trị và khai thác đại dương. Việt Nam cần ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực như dữ liệu đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, công nghệ giám sát biển, robot biển, công nghệ sinh học biển và các nền tảng số phục vụ kinh tế biển. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh trong tương lai.
Thứ năm, bên cạnh công nghiệp công nghệ cao, cần đặc biệt quan tâm phát triển công nghiệp sinh học biển – lĩnh vực được xem là “mỏ vàng xanh” của thế kỷ XXI. Với hệ sinh thái biển nhiệt đới phong phú, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển dược liệu biển, thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học và nuôi biển công nghệ cao. Nếu được đầu tư bài bản, đây sẽ trở thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng rất cao, đồng thời góp phần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn biển.
Thứ sáu, một nội dung đột phá quan trọng trong kỷ nguyên mới là phát triển công nghiệp văn hóa biển như một động lực mềm của kinh tế biển Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo ngày càng trở thành xu hướng phát triển toàn cầu, việc chuyển hóa các giá trị văn hóa biển thành nguồn lực phát triển kinh tế có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế, văn hóa và đối ngoại. Trước hết, cần xây dựng chiến lược quốc gia về công nghiệp văn hóa biển nhằm định hình rõ các lĩnh vực ưu tiên, cơ chế đầu tư và mô hình phát triển phù hợp với xu thế kinh tế sáng tạo hiện đại. Trên cơ sở đó, cần hình thành các trung tâm sáng tạo biển quốc gia gắn với các đô thị biển lớn, nơi kết nối giữa văn hóa, công nghệ, du lịch, nghệ thuật và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển công nghiệp nội dung số biển, bao gồm điện ảnh biển, truyền thông số về biển đảo, game, thực tế ảo (VR/AR), bảo tàng số và các sản phẩm văn hóa sáng tạo biển. Đây không chỉ là lĩnh vực có giá trị kinh tế cao mà còn là công cụ hiệu quả để lan tỏa hình ảnh quốc gia, nâng cao nhận thức cộng đồng về biển đảo và tăng cường sức mạnh mềm Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Cùng với đó, cần phát triển các festival biển quốc tế, kinh tế đêm ven biển và các không gian văn hóa biển hiện đại nhằm tạo ra các hệ sinh thái du lịch – văn hóa – sáng tạo có sức cạnh tranh quốc tế. Về lâu dài, cần xây dựng thương hiệu quốc gia biển Việt Nam như một biểu tượng của quốc gia biển hiện đại, năng động, sáng tạo và giàu bản sắc văn hóa.
Để hiện thực hóa các định hướng trên, yêu cầu có tính quyết định là phải tạo đột phá mạnh mẽ về thể chế và hạ tầng chiến lược biển. Cụ thể là:
Trước hết, cần đổi mới mô hình quản trị biển theo hướng quản trị tích hợp không gian biển quốc gia, bảo đảm liên kết giữa kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Quy hoạch không gian biển phải được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, thống nhất và có tính liên kết vùng cao, khắc phục tình trạng phát triển phân tán, cục bộ và chồng chéo hiện nay. Đồng thời, cần nghiên cứu xây dựng các cơ chế đặc thù cho phát triển kinh tế biển, nhất là đối với các trung tâm logistics quốc tế, khu kinh tế biển chiến lược, công nghiệp năng lượng ngoài khơi và các ngành công nghệ biển mới.
Thứ hai, song song với đổi mới thể chế, cần tập trung đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược biển theo hướng hiện đại và đồng bộ, bao gồm hạ tầng cảng biển, logistics, năng lượng, giao thông ven biển, hạ tầng số biển và hệ thống dữ liệu đại dương quốc gia. Trong nền kinh tế hiện đại, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số có vai trò không kém hạ tầng vật chất truyền thống. Vì vậy, phát triển “hạ tầng mềm” cho kinh tế biển cần được xem là ưu tiên chiến lược trong giai đoạn tới.
Thứ ba, một giải pháp mang tính nền tảng khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học – công nghệ biển. Việt Nam cần xây dựng các trung tâm nghiên cứu biển và đổi mới sáng tạo biển có tầm khu vực, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo và doanh nghiệp. Đồng thời, cần đổi mới mạnh mẽ hệ thống đào tạo nhân lực biển theo hướng hiện đại, liên ngành và gắn với các lĩnh vực mới như công nghệ đại dương, logistics quốc tế, kinh tế số biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghiệp sáng tạo biển. Trong dài hạn, năng lực khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của kinh tế biển Việt Nam.
Thứ tư, phát triển kinh tế biển phải luôn gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đối với Việt Nam, kinh tế biển không chỉ là vấn đề tăng trưởng kinh tế mà còn gắn với bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, tăng cường hiện diện dân sự và kinh tế trên các vùng biển, đảo. Đồng thời, cần đẩy mạnh ngoại giao biển, hợp tác quốc tế về kinh tế biển và phát huy sức mạnh mềm quốc gia thông qua văn hóa biển, thương hiệu biển và hình ảnh quốc gia biển Việt Nam. Song song với đó, cần đặc biệt quan tâm phát triển cộng đồng cư dân biển bền vững, nâng cao chất lượng sống và tạo sinh kế ổn định cho người dân ven biển, bởi đây chính là nền tảng xã hội lâu dài của chiến lược phát triển biển quốc gia.
Trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kinh tế biển cần được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhất của mô hình tăng trưởng mới. Khi tạo được đột phá về thể chế, công nghệ, hạ tầng và nguồn nhân lực, Việt Nam có khả năng xây dựng và phát triển nền kinh tế biển hiện đại, xanh, số và có sức cạnh tranh quốc tế, qua đó tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng./.
Chú thích:
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.I, tr.95.
2 Xem “South China Sea”, U.S. Energy Information Administration, 21/3/2024,
https://www.eia.gov/international/analysis/regions-of-interest/South_China_Sea
3 Xem “Hành trình vươn lên biển lớn – xây dựng quốc gia mạnh về biển, giàu có từ biển”, Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 10/11/2025, https://mae.gov.vn/SuKien80Nam/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=69
4 Xem Phi Long: “Cảng biển, hàng hải Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ quốc tế”, Trang thông tin điện tử Cảng Sài Gòn, ngày 04/02/2025, https://saigonport.vn/cang-bien-hang-hai-viet-nam-khang-dinh-vi-the-tren-ban-do-quoc-te/
5 World Bank: “Báo cáo cuối cùng: Lộ trình điện gió ngoài khơi cho Việt Nam”, https://documents1.worldbank.org/curated/en/602321623055565215/pdf/Offshore-Wind-Development-Program-Offshore-Wind-Roadmap-for-Vietnam.pdf, 2020
6 Xem Ngọc Linh: “Ngành điện gió ngoài khơi có thể tạo ra hàng nghìn cơ hội việc làm chất lượng”, Báo Công Thương điện tử, ngày 28/3/2024, https://congthuong.vn/nganh-dien-gio-ngoai-khoi-co-the-tao-ra-hang-nghin-co-hoi-viec-lam-chat-luong-311435.html
7 Xem TS. Bùi Thị Thu Hiền: Biển Đông từ góc nhìn lợi ích của các quốc gia trong khu vực châu Á –
Thái Bình Dương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr.305-306.
8 Xem TS. Bùi Thị Thu Hiền: Biển Đông từ góc nhìn lợi ích của các quốc gia trong khu vực châu Á –
Thái Bình Dương, Sđd, tr.306.
9 Xem Văn Giáp: “Ngành cảng biển Việt Nam trước cơ hội tăng trưởng và thách thức mới”, Báo điện tử VietnamPlus, ngày 18/3/2026, https://www.vietnamplus.vn/nganh-cang-bien-viet-nam-truoc-co-hoi-tang-truong-va-thach-thuc-moi-post1099669.vnp.
10 Xem PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà: “Phát triển du lịch biển, đảo chuyên nghiệp, trở thành điểm đến hấp dẫn”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 04/02/2024, https://baochinhphu.vn/bai-2-phat-trien-du-lich-bien-dao-chuyen-nghiep-tro-thanh-diem-den-hap-dan-102240129215948802.htm./.
Để lại một phản hồi