XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU “VẤN ĐỀ LƯỢNG TỬ” PHỤC VỤ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2026- 20501

 NVCC.TS. Hồ Bá Thâm2

Vấn đề lượng tử và lượng tử (còn gắn với vấn đề thông tin), nó bao gồm cả khoa học lượng tử-công nghệ lượng tử- triết học lượng tử- tư duy lượng tử… tạo nên nền tảng của hệ sinh thái
lượng tử. Cần có tầm nhìn khái quát toàn cầu qua tình hình, kinh nghiệm một số nước về giải
quyết bài toán chính sách phát triển lĩnh vực lượng tử trong tương quan trật tự hai lĩnh vực khi
phát triển công nghệ lượng tử và triết học, tư duy lượng tử. Trong đó tình hình và kinh
nghiệm quốc tế cho thấy thường ưu tiên, thực hiện trước chính sách về công nghệ lượng tử,
nhưng không tách rời và cũng rất quan tâm nghiên cứu về triết học lượng tử, tư duy lượng tử,
định hướng ứng dụng. Dù các nước khác nhau có mức độ khác nhau, từng thời kỳ cũng khác
nhau, dù rằng trong lịch sử hình thành thì khoa học và triết học lượng tử đã đi trước công
nghệ. Từ đó làm rõ nội dung, tình hình phát triển và nghiên cứu từng lĩnh vực, nhưng tác giả
tập trung nhiều hơn, trọng tâm vào lĩnh vực triết học, tư duy lượng tử. Ý tưởng, mục tiêu và
thông điệp chính của bài viết đề xuất một số hướng nghiên cứu và ứng dụng cụ thể, nhất là về
triết học lượng tử, tư duy lượng tử cũng như đề xuất một số kiến nghị ở TPHCM, cho tương
lai TPHCM trong kỷ nguyên mới, thời kỳ phát triển phi cổ điển, phi truyền thống theo tinh
thần lượng tử.

Trong khi tập trung cao độ cho thời ký phát triển mới kỷ nguyên mới của
đất nước và cũng là của TPHCM thì như phát triển tăng trưởng chủ yếu dựa vào
nền tảng và động lực trung tâm là khoa học và công nghệ, mà trước mắt là vấn đề
đồi mới sáng tạo và chuyển đổi số (ĐMST- CĐS), thì Trung ương Đảng và
Đảng bộ TPHCM đã sẵn sàng cho bước phát triển tiếp theo mới có tính đột phá,
bứt phá là đồng thời, đan xen từng bước tiến công vào lĩnh vực công nghệ lượng
tử cùng với một số công nghệ cao, chiến lược, công nghệ cốt lõi khác mới nổi.
Nhưng không chỉ là công nghệ lượng tử thuộc khoa học công nghệ mà vấn đề
lượng tử còn có triết học, tư duy lượng tử thuộc khoa học xã hội và nhân văn
nữa. Không thể thực hiện một trong hai mặt không thể tách rời và tác động hỗ
trợ nhau cùng phát triển trong một thứ tự có ưu tiên – như một hệ sinh thái lượng
tử vậy !

Dù hiện nay Đảng và Nhà nước ta chỉ mới có chủ trương chính sách, chiến lược về công nghệ lượng tử, chưa có chính sách chính thức phát triển và ứng dụng triết học và tư duy lượng tử, nhưng lại có chủ trương phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, mà trong chủ nghĩa này có triết học – nền tàng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất. Cho nên nghiên cứu triết học lượng tử, tư duy lượng tử là phù hợp với bản chất biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối đổi mới của Đảng, nhầt là về tiếp thu tinh hoa trí tuệ mới của loài người, của thời đại, để phát triển trí tuệ và phát triển đất nước ngang tầm thời đại ! Nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học cơ bản phải đi trước chính sách !

I- ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ NỘI HÀM KHÁI NIỆM “VẤN ĐỀ LƯỢNG TỬ”
        1. VẤN ĐỀ LƯỢNG TỬ VÀ VẤN ĐỀ THÔNG TIN TRONG THẾ KỶ XXI – HAI MẶT CỦA MỘT VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊNCỨU VÀ ỨNG DỤNG, PHÁT TRIỂN

a- Xu hướng thế giới và yêu cầu khách quan, cơ bản, cấp thiết đối với
tương lai phát triển đất nước cũng như của TPHCM

– Thế giới loài người đang tiến vào bước ngoặt cạnh tranh phát triển mạnh mẽ về
khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ AI và lượng tử, công nghệ xanh.
Không chỉ các nước phát triển cao mà cả các nước đang phát triển như vùng
Đông Nam Á và Việt Nam cũng đang vươn lên, nếu không đầu tư sớm vào phát
triển ứng dụng công nghệ lượng tử sẽ tụt hậu3 !

– Xu hướng: cùng công nghệ AI, AGI.. là phát triển và ứng dụng các công nghệ
lượng tử trình độ cao, tinh vi hơn, phổ biến hơn trong quá trình phát triển đất
nước và TPHCM. Thập kỷ tới là thập kỷ công nghệ lượng tử và sẽ tạo nên bước
ngoặt quyết định phát triển toàn cầu và đời sống nhân loại rất khác.
– Yêu cầu khách quan phát triển đất nước cũng như TPHCM trong kỷ nguyên
mới nhất là với tầm nhìn từ năm đến 2050 là tăng tốc, bứt phá, phát triển nhanh
và bền vững trên cơ sở nền tảng và động lực trung tâm KHCN- ĐMST- CĐS.
Trong nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định vai trò to lớn bậc nhất của
công nghệ lượng tử và tư duy khoa học công nghệ mới.

  1. Vai trò nền tảng và động lực then chốt, trung tâm của khoa học và
    công nghệ mà AI và lượng tử là then chốt của then chốt !

– Các nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 14 và nghị quyết của Đảng bộ
TPHCM lần thứ nhất nhiệm kỳ 2026- 2030 và tầm nhin 2045 đã nêu và đặt vị trí
công nghệ lượng tử, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và nắm bắt cơ hội cũng
như từng bước thực hiện.

– Vai trò của vấn đề lượng tử, nhất là công nghệ lượng tử (công nghệ lõi, công
nghệ chiến lược, mũi nhọn) với tiềm lực khoa học và công nghệ – mang tính
nền tảng vật chất – thực tiễn, nhưng cần những điều kiện cơ bản đi kèm cũng như
nền tảng tinh thần, trí tuệ văn hóa tương xứng.

c- “Vấn đề lượng tử”, nhưng không chỉ là lượng tử mà còn là “vấn đề
thông tin”

“Vấn đề lượng tử” (lượng tử học) theo nghĩa rộng nhất là gắn với vấn đề thông
tin học, dù đây là hai mặt khác nhau của cùng một thực tại.

Nội hàm vấn đề lượng tử – thông tin:

– “Vấn đề lượng tử” là gì ?

Trong vật lý hiện đại (đặc biệt từ cơ học lượng tử), các đặc trưng cốt lõi là:

+ Tính xác suất (probabilistic);

+ Chồng chập (superposition);

+ Rối lượng tử (entanglement);

+Vấn đề đo lường (measurement problem).

Nhà vật lý giải thưởng Nobel Roger enrose nhấn mạnh rằng cơ học lượng tử không chỉ là công cụ tính toán mà còn đặt câu hỏi về “thực tại là gì”.

– “Vấn đề thông tin” là gì?

Trong khoa học hiện đại, “thông tin” không chỉ là dữ liệu, mà là:

+ Cấu trúc phân biệt trạng thái;

+ Khả năng mã hóa và truyền tải;

+ Nền tảng của nhận thức và ý thức.

– Quan điểm vật lý hiện đại: Nhiều nhà khoa học cho rằng: Thông Tin Và
Lượng Tử Không Phải Hai Lĩnh Vực Tách Biệt, Mà Là Hai Cách Mô Tả Cùng
Một Thực Tại. Ví dụ:

+ Rối lượng tử = tương quan thông tin phi cổ điển.

+ Trạng thái sóng – phân bố thông tin xác suất. Entropy (nhiệt động học) =
thước đo thông tin. Nhiều nhà khoa học cho rằng: Thông Tin Và Lượng Tử
Không Phải Hai Lĩnh Vực Tách Biệt, Mà Là Hai Cách Mô Tả Cùng Một Thực
Tại. Trọng tâm là vấn đề tìm hiểu, ứng dụng, thực hiện, góp phần phát triển
công nghệ lượng tử và thông tin trong nền kinh tế và xã hội.

2- VẤN ĐỀ LƯỢNG TỬ KHÔNG CHỈ LÀ VẤN ĐỀ CÔNG NGHỆ MÀ
CÒN LÀ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC, TƯ DUY LƯỢNG TỬ

  1. Công nghệ lượng tử và triết học/ tư duy lượng tử

Vấn đề lượng tử” không chỉ là công nghệ mà cả nhân lực, thể chế tương ứng,
nhưng nhìn rộng ra “Vấn đề lượng tử” còn bao hàm cả vấn đề tư duy lượng tử,
tư duy thông tin có chiều sâu khoa học và triết học như phần mềm, sức mạnh
mềm bên cạnh sức mạnh, nền tảng cứng là công nghệ lượng tử. Tức nó tạo nên
một hệ sinh thái lượng tử trong chiến lược phát triển! Cho nên cần coi trọng triết
học và tư duy lượng tử – thông tin (nền tảng tinh thần, nhận thức, hiểu biết), và là
nhân lực tương ứng chứ không chỉ là công nghệ lượng tử, hạ tầng vật chất lượng
tử.
        b. Công nghệ lượng tử

– Công nghệ lượng tử là tập hợp các công nghệ khai thác trực tiếp các hiện
tượng của cơ học lượng tử như: chồng chập (superposition)/ vướng víu (entanglement) /lượng tử hóa (quantization). Trong cách nhìn của Roger Penrose, cơ học lượng tử không chỉ là mô hình tính toán mà còn đặt câu hỏi về “bản chất của thực tại” (quantum reality). Vì vậy, CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ là nơi: khoa học tự nhiên (physics), khoa học tính toán, triết học về thực tại (ontology, epistemology) giao nhau.

– Phân loại công nghệ lượng tử chính (theo khoa học hiện đại): Có 4 trụ cột:

+ Quantum computing (máy tính lượng tử/ tính toán lượng tử);

+ Quantumcommunication (truyền thông lượng tử);

+ Quantum sensing (cảm biến lượng tử);

+ Quantum materials (vật liệu lượng tử).

c- Triết học lượng tử, tư duy lượng tử


          – Triết học lượng tử là lĩnh vực triết học khoa học nghiên cứu, chẳng hạn:

+ Bản thể luận (ontology): “thực tại lượng tử là gì?”;

+ Biện chứng lượng tử;

+ Nhận thức luận (epistemology) lượng tử: “ta biết thế nào về thế giới lượng tử?”;

+ Logic và nhân quả trong thế giới vi mô, lượng tử. Theo truyền thống triết học
khoa học, đây là sự mở rộng của các vấn đề cổ điển như: chủ nghĩa hiện thực và
phản hiện thực; mối quan hệ giữa lý thuyết và quan sát.

– “Tư duy lượng tử” là gì? Không phải là khái niệm vật lý thuần túy (trong lĩnh
vực khoa học và kỹ thuật lượng tử), mà là một ẩn dụ nhận thức (cognitive
metaphor)
: NGUYÊN TẮC SUY NGHĨ dựa trên các nguyên lý nền tảng của khoa học và triết học lượng tử!

Đặc điểm chính của tư duy lượng tử:

+ Chấp nhận bất định (uncertainty);

+ Tư duy phi tuyến tính (non-linear), dám chấp nhận rủi ro;

+ Chấp nhận đa trạng thái (superposition thinking);

+ Nhấn mạnh tính quan hệ (relational thinking). Nó gắn với các lý thuyết nhận thức hiện đại: predictive brain/ bộ não dự đoán và mô hình sinh thông tin (generative models).
Tư duy lượng tử (Quantum Thinking) là phương pháp tiếp cận nhận thức đột
phá, ứng dụng các nguyên lý vật lý lượng tử như chồng chập (nhiều khả năng
cùng tồn tại), vướng víu (kết nối không khoảng cách), và sự bất định vào tư duy
đời sống và kinh doanh. Nó khuyến khích góc nhìn đa chiều, chấp nhận sự
không chắc chắn và tư duy phi tuyến tính để đột phá.

3- QUAN NIỆM VỀ XU HƯỚNG, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC VÀ ĐỊNH
HƯƠNG NGHIÊN CÚU

  1. Từ xu hướng khách quan chung trên thế giới và ở Việt Nam, cần xây dựng một
    tầm nhìn như là cương lĩnh cụ thể trong lĩnh vực khoa học và công nghệ về mặt
    phát triển và ứng dụng lượng tử – thông tin, là một nội dung trung tâm, ưu tiên
    của mặt trận khoa học và công nghệ có tính triết học, triết lý cơ bản, gồm cả hệ
    quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình, điều kiện, giải pháp lớn làm cơ
    sở cho chương trình kế hoạch quốc gia.
  2. “Bộ tứ khoa học lượng tử” là xương sống của định hướng nội dung chiến
    lược của: Khoa học lượng tử; công nghệ lượng tử/ thông tin – triết học lượng tử; tư duy lượng tử/ thông tin và thứ tự hay kết hợp trong chiến lược phát triển và ứng dụng lượng tử.
  3. Xem xét những nghiên cứu vấn đề lượng tử hiện nay và định hướng
    nghiên cứu tới là rất quan trọng. Nghĩa là khi thực hiện những nội dung khoa học công nghệ và triết học hiện tại và những năm gần, chúng ta phải có tầm nhìn
    xa từ việc nghiên cứu, hiểu biết chuẩn bị cho tương lai sẽ tới để khỏi bị động
    kiểu “nước đến chân mới nhảy”, có khi bỏ lỡ cơ hội phát triển như đã từng diễn ra
    trong lịch sử những thập kỷ trước đây.

II- TỬ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (VỀ CHÍNH
SÁCH GIẢI QUYẾT QUAN HỆ VÀ TRẬT TỰ GIỮA PHÁT TRIỂN ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ VÀ NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN
TRIẾT HỌC, TƯ DUY LƯỢNG TỬ? ƯU TIÊN MỘT TRONG HAI HAY
ĐỒNG THỜI?)

Đây thực chất là một vấn đề chính sách khoa học – công nghệ ở cấp độ chiến
lược quốc gia và văn minh. Vấn đề là “Nên ưu tiên phát triển công nghệ lượng
tử (ứng dụng) hay phát triển triết học/tư duy lượng tử (nhận thức)? Hay phải
đồng thời? Để trả lời, ta cần phân tích theo ba tầng: Khái niệm và mối quan hệ;
Kinh nghiệm quốc tế (case studies); Mô hình chính sách tối ưu.

  1. LÀM RÕ MỐI QUAN HỆ: CÔNG NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC LƯỢNG TỬ
    a. Hai lĩnh vực không tách rời. Theo triết học khoa học hiện đại:

+ Lý thuyết → công nghệ → tái cấu trúc nhận thức;

+ Đồng thời: công nghệ mới→ đặt lại vấn đề triết học. James Ladyman nhấn mạnh: khoa học không chỉ tạo tri thức mà còn thay đổi cách ta hiểu thực tại.
b. Quan hệ biện chứng:

       Nếu tách rời:

       + Duy công nghệ thì sẽ mù triết học (blind engineering);

       + Duy triết học/ tư duy thì sẽ xa rời thực tiễn (speculative abstraction) và nền tảngvật chất công nghệ. Nhưng kết hợp cả hai nhưng có thứ tự ưu tiên thế nào, tầm
quan trọng của hai mặt nói trên trong quá trình phát triển và các tình huống quốc
gia cần lựa chọn cụ thể ?

  1. Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới

– United States/ Hoa Kỳ: Mô hình: “Công nghệ dẫn dắt + triết học hỗ
trợ”
. Chính sách: National Quantum Initiative/ Sáng kiến lượng tử quốc gia
(2018) đầu tư mạnh vào: quantum computing cryptography/ mật mã điện toán
lượng tử. Đặc điểm:

+ Triết học không tách riêng;

+ Nhưng: tích hợp trong: philosophy of physics; AI ethics; cognitive science.

Đánh giá:

+ Ưu tiên (ướ ctính): Công nghệ (~80%4),

+ Triết học: hỗ trợ, không dẫn dắt.

– European Union/ Liên minh châu Âu: Mô hình: “Cân bằng – phản tư
(reflexive science)”. Chính sách: Quantum Flagship (1 tỷ €), yêu cầu: ethics;
societal impact/ đạo đức; tác động xã hội. Đặc điểm: tích hợp: philosophy of
science ; ethics; responsible innovation/ đạo đức; đổi mới có trách nhiệm.

Đánh giá:

+ Công nghệ: ~60%;

         + Triết học/nhân văn: ~40% (Mỹ chi 20%).

– China: Mô hình: “Công nghệ tuyệt đối ưu tiên”: Chính sách: đầu tư cực
lớn vào: quantum communication- giao tiếp/ truyền thông lượng tử ; quantum
satellite / hoặc nhiều như một vệ tinh. Đặc điểm: Các nghiên cứu triết học và
phản biện xã hội chưa giữ vai trò nổi bật trong chiến lược lượng tử so với ưu
tiên công nghệ và an ninh quốc gia. Không độc lập và phục vụ ý thức hệ.

Đánh giá: Công nghệ: ~90%. Triết học: rất thấp . Hiệu quả nhanh, nhưng nguy cơ thiếu phản biện nhận thức.

– Germany: Mô hình: “Khoa học + triết học tích hợp sâu”. Ở đây có
truyền thống Kant – Husserl – Heisenberg và triết học vật lý rất mạnh. Đặc
điểm:

+ Triết học không phải “phụ trợ” ,

+ Mà là: nền tảng nhận thức ! Bài học từ lịch sử chung: Cơ học lượng tử ra đời từ khủng hoảng triết học về thực tại, nhưng nếu không có Bohr , Einstein, Heisenberg thì sẽ không có quantumtheory và sẽ không có công nghệ lượng tử, triết học lượng tử.

  1. PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH: ƯU TIÊN HAY ĐỒNG THỜI, GẦN CÂN
    BẰNG?
    a. Ba mô hình chiến lược: Ưu tiến công nghệ, ưu tiên triết học, đồng tiến.
    + Technology-first: ưu tiên công nghệ. Ưu điểm: tăng trưởng nhanh, tăng cạnh
    tranh quốc gia. Nhược điểm: thiếu định hướng dài hạn dễ rơi vào rủi ro đạo đức,
    nhận thức.

+ Philosophy-first: ưu tiên triết học. Ưu điểm: nền tảng sâu, có nền
tảng tư duy, trí tuệ, nhân lực, tầm nhìn, tránh sai lầm chiến lược. Nhược điểm:
phát triển chậm lại khó đo lường, đánh giá.

+ Co-evolution (đồng tiến hóa): công nghệ ↔ triết học cùng phát triển là phát triển vững chắc! Nhật Bản cũng rất chú ý xử lý phù hợp sự tương quan này. Về mặt ứng dụng thực tế và dòng vốn đầu tư kinh tế, công nghệ lượng tử đang có tốc độ phát triển
và quy mô nổi trội hơn hẳn do nhu cầu chuyển đổi số toàn cầu. Tuy nhiên, nếu
xét về chiều sâu xã hội – nhân văn – con người- nhân lực tư duy, thì triết học và tư
duy lượng tử chính là kim chỉ nam không chỉ tạo ra bước nhảy vọt để định hình
các lý thuyết khoa học mà công nghệ đang hướng tới. Nhưng phổ cập hơn chính
là sử dụng tư duy triết học – khoa học lượng tử để nhận thức và giải quyết các
vấn đề thực tiễn đặt ra mà tư duy triết học và khoa học cổ điển, truyền thống có
những bất cập. Hai lĩnh vực này bổ trợ cho nhau: triết học đặt câu hỏi, khoa học
chứng minh, và công nghệ hiện thực hóa.

  1. Xu hướng toàn cầu hiện nay:

– Dịch chuyển từ “công nghệ thuần túy”sang “khoa học có trách nhiệm”. Các khái niệm mới: Responsible Innovation/ đổi mới có trách nhiệm, Ethics by design / đạo đức ngay từ khâu thiêt kế! Human-centered AI / Trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm→ áp dụngcho quantum!

– Tích hợp liên ngành:

+ Physics + philosophy;

+ AI + cognitivescience;

+ Quantum + neuroscience…

  1. Vai trò của “tư duy lượng tử”: Không phải chỉ trực tiếp trong là vật lý- công nghệ, mà còn là: cách tư duy chính trị kinh tế xã hội nhân sinh trong bất định; phi tuyến, đa khả năng, quan hệ tổng thể, hệ phức tạp… là rất quan trọng cho cả xây dựng lý thuyết phát triển đất nước hay triết lý cho địa phương trong kỷ nguyên mới, và cả trong tổ chức, hành động quản trị, chiến lược quốc gia, trong chỉ đạo thực hành. Đây là một hệ hình tư duy biện chứng mới phi tuyến tính, xác suất, bất định cần bổ sung cho tư duy biện chứng cổ điển còn thiên về tuyến tính! Điều quan trọng là trong thế bất định, phi tuyến và phức hợp phát triển nhanh nhiều cơ hội ngày nay rất cần bổ sung bằng TƯ DUY BIỆN CHỨNG LƯỢNG TỬ. TƯ DUY KHOA HỌC PHI CỔ ĐIỂN mà tư duy biện chứng cổ điển, tư duy khoa học cổ điển không còn đủ nữa.
  2. KẾT LUẬN CHÍNH SÁCH- GỢI Ý CHO VIỆT NAM
  3. a) Không nên chọn một trong hai hoặc để chênh lệch quá: Nếu “chỉ công
    nghệ” hay quá nặng về công nghệ sẽ rất nguy hiểm; hoặc nếu “chỉ triết học” thì sẽ kém,
    hay không hiệu quả trong chiến lược phát triển. Kinh nghiệm nhiều nước đi trước có những gợi ý rất quan trọng cho Việt Nam và TPHCM.
  4. b) Mô hình tối ưu: “Đồng tiến hóa có trọng số”:

– Giai đoạn đầu (hiện nay –2035): Có thể hình dung một tỉ lệ công nghệ: 80%-70-%, triết học/tư duy nâng dần lên: 20% -30%;

– Giai đoạn sau (2035–2050): Công nghệ: 70%- 60%, triết học: 30%- 40%.

  1. c) Nguyên tắc cốt lõi:

Triết học phải “nhúng” vào công nghệ: không tách riêng, mà nằm trong: thiết kế hệ thống và chính sách;

– Công nghệ phải bị “phản tư”, hiểu: giới hạn và hệ quả;

– Phát triển “tư duy lượng tử” cho lãnh đạo: chấp nhận bất định, tư duy hệ thống, không tuyến tính…

  1. d) Gợi ý chính sách (thực tiễn):

– Giáo dục: tích hợp: physics – philosophyAI ;

– Viện nghiên cứu: thành lập: Quantum + Philosophy labs;

– Chính phủ: bắt buộc: đánh giá đạo đức và đánh giá nhận thức.

e). Kết luận triết học: Vấn đề thực chất là: “Con người nên phát triển công cụ
hay trí tuệ để hiểu công cụ đó?” Câu trả lời của lịch sử khoa học là: Hai Thứ
Phải Tiến Hóa Cùng Nhau – Nếu Không, Công Nghệ Sẽ Vượt Khỏi Khả Năng
Hiểu Của Con Người. Nhưng một quốc gia đang phát triển nên bắt đầu từ đâu:
Công nghệ hay giáo dục tư duy, hay đồng thời có ưu tiên? Nên giáo dục tư duy
đi trước một bước làm nền tảng nhận thức, tư duy và sau đó cùng tiến hóa công
nghệ và tư duy lượng tử… Cụ thể hơn:

– Nếu công nghệ lượng tử thay đổi bản chất tri thức dẫn đến hệ
thống giáo dục hiện tại có còn phù hợp? Tất nhiên phải thích nghi và đổi mới!

– “Tư duy lượng tử” có thể trở thành một năng lực cốt lõi như tư duy logic, số
hóa không? Có thể như vậy, thậm chí còn vượt trội hơn. khi nhìn nhận sự kết
hợp biện chứng của hai loại tư duy này.

– Nhưng hiện nay đa số cả giới tinh hoa còn ít hay chậm chân tiếp cận tư duy biện chứng lượng tử, tư duy phi cổ điển.

– Hiện nay có thể: cần đề xuất mô hình chính sách cụ thể phát triển và
ứng dụng vấn đề lượng tử cho Việt Nam trước hết phải cần nghiên cứu các mô
hình vận dụng cho nước ta, đầu tiên là ở TPHCM. Đồng thời cũng có thể và
cần phải xây dựng framework đào tạo “quantum thinking” cho lãnh đạo và nhà
khoa học.

III- THỰC TRẠNG, KẾT QUẢ HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI VÀ XU
HƯỚNG VỀ NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC LƯỢNG TỬ, TƯ DUY LƯỢNG TỬ
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2050?

Dưới đây là một phân tích 3 nội dung về: 1) Thực trạng 2) Kết quả hiện nay 3)
Xu hướng đến 2050 của triết học lượng tử (quantum philosophy) và tư duy
lượng tử (quantum thinking).

  1. THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HIỆN NAY (2020–2025)
  2. Trong triết học khoa học:

– Tranh luận về bản chất thực tại lượng tử. Các trường phái chính như thực tại phụ thuộc quan sát, hay tồn tại đa thế giới, hoặc xác suất mang tính chủ quan?… Từ khoa học lượng tử và thông tin đặt ra bản thể luận và cấu trúc thực tại: vật chất vô hình- hữu hình và trung gian (Hồ Bá Thâm). Vấn đề cốt lõi: “Quantum có mô tả thực tại hay chỉ mô tả tri thức của ta về nó?”. Điều này phản ánh vấn đề lớn của triết học khoa học: lý thuyết ≠ thực tại.

– Vấn đề đo lường (measurement problem): sụp đổ hàm sóng (wave function collapse), vai trò của “người quan sát”. Đây là điểm giao giữa vật lý, triết học, thậm chí cả khoa học nhận thức.

  1. Trong khoa học nhận thức & AI:

– Quantum cognition (nhận thức lượng tử). Ứng dụng: mô hình hóa quyết định phi logic và giải thích nghịch lý hành vi… Ví dụ: con người không luôn tuân theo xác suất cổ điển là phù hợp với xác suất lượng tử;

– Còn từ mô hình não như hệ sinh thông tin ta lại thấy: Theo nghiên cứu: ý thức liên quan đến khả năng tạo thông tin nội tại, nó gần với: predictive processing/ xử lý dự đoán: Bayesian brain / não Bayes.

  1. Thực trạng tổng quát: Thành tựu: tạo ra một cuộc khủng hoảng triết học
    về thực tại và hiểu lại cho đúng;
    mở rộng triết học khoa học sang thông tin,
    xác suất, quan hệ… Hạn chế: chưa có đồng thuận về bản thể thực tại và vai trò
    ý thức, nhiều diễn giải còn mang tính suy đoán (speculative).
  2. Kết quả đạt được (đến hiện nay):

– Thay đổi cách hiểu về thực tại;

-Từ thực tại = khách quan, xác định, sang Thực Tại = Cấu Trúc Biện Chứng- Xác Suất, Quan Hệ, Phụ Thuộc Lẫn Nhau, Trong Đó Có Vấn Đề Đo Lường! Penrose nhấn mạnh: “Quantum reality vẫn là câu hỏi mở”.

  1. Thay đổi logic tư duy Logic cổ điển: A hoặc B; Logic lượng tử: A và B
    (trong chồng chập), ảnh hưởng đến: AI, decision theory/ lý thuyết quyết định.
    Từ đó tạo nên một dạng thức tư duy lượng tử. Trên thế giới có khá nhiều nhà
    nghiên cứu đã nghiên cứu về tư duy lượng tử như: Jerome R. Busemeyer & Peter
    D. Bruza: Hai tác giả chính của cuốn sách nền tảng “Quantum Models of
    Cognition and Decision”/
    Các mô hình lượng tử về nhận thức và ra quyết định
    [2012], được xem là tài liệu trích dẫn hàng đầu về việc sử dụng xác suất lượng
    tử để giải thích các nghịch lý trong tư duy con người. Emmanuel Haven &
    Andrei Khrennikov: Nổi bật với các nghiên cứu về “Quantum Social Science”
    (Khoa học xã hội lượng tử), áp dụng mô hình toán học lượng tử vào tài chính và
    hành vi xã hội, trích dẫn nhiều trong các nghiên cứu về tư duy ra quyết định
    không tuân theo logic cổ điển5.
  2. Hình thành các hướng nghiên cứu mới: quantum information theory;
    quantum cognition; philosophy of information; consciousness studies. Ví dụ: IIT
    (Integrated Information Theory) cố gắng mô tả ý thức bằng thông tin…
  3. XU HƯỚNG TỪ NAY ĐÉN NĂM 2050
  4. Xu hướng 1: “Thông tin hóa thực tại” (Information Ontology): Nội
    dung: thực tại = thông tin (information-based reality). Hệ quả: vật chất hữu hình
    không còn là nền tảng; thông tin – “vật chất” phi hình hữu hình- trở thành bản
    thể cơ bản (Xem thêm: Wheeler: “It from bit”, IIT).
  5. Xu hướng 2: Hợp nhất vật lý – nhận thức – triết học. Lý do: quantum
    liên quan đến đo lường – quan sát – thông tin. Từ đó buộc phải nghiên cứu xem
    xét ý thức, nhận thức trong tương quan khoa học lượng tử và thông tin luận. Và
    theo Kandel: khoa học tâm trí đang trở thành trung tâm khoa học hiện đại.
    c. Xu hướng 3: Quantum + AI → “tư duy hậu cổ điển”. Đặc điểm là
    không tuyến tính, xác suất, hệ phức hợp,… đa khả năng. Cho nên con người
    phải thích nghi với “uncertainty thinking”/”Tư duy không chắc chắn”.
  6. Xu hướng 4: Tái cấu trúc triết học khoa học. Các thay đổi:
Trước
@Thực tại khách quan/
@Logic nhị phân/
@Quan sát thụ động/
Sau
Thực tại quan hệ
Logic xác suất
quan sát cấu thành thực tại
  1. Xu hướng 5: Giao thoa Đông – Tây. Dự báo như tăng đối thoại với Phật
    giáo, triết học Ấn Độ, triết học Mác, vật lý lượng tử – thông tin. Tuy nhiên, sẽ theo
    hướng phê phán khoa học, tránh thần bí hóa…
  2. Dự báo giai đoạn:

– 2025–2035: Quantum Philosophy Trở Thành Lĩnh Vực Chính Thống Hơn, quantum cognition phát triển mạnh.

– 2035–2050 có thể xuất hiện “Lý thuyết thống nhất về thông tin – ý thức – vật lý”, triết học chuyển sang post-classical epistemology/ nhận thức luận hậu cổ điển!

  1. TÓM LẠI

Triết học lượng tử và tư duy lượng tử không chỉ là hệ quả của vật lý mà là Một
Cuộc Cách Mạng Nhận Thức Luận!
Nó có ý nghĩa lớn và sâu xa: thay đổi
cách con người hiểu: hiểu thực tại, tri thức về thực tại cũng là chính bản thân
con người. Một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ như: Nếu thực tại là biện chứng
mang tính chất và hình thái xác suất thì “chân lý” còn mang nghĩa tuyệt đối
không?

– Nếu quan sát tạo nên thực tại thì con người có vai trò “sáng tạo thế
giới” không?

– Tư duy lượng tử có thực sự là một phương pháp khoa học, haychỉ là ẩn dụ triết học?
IV. MỘT SỐ CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ ĐÃ ỨNG DỤNG HIỆN NAY TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC VÀ CÁC CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ TƯƠNG LAI TRONG 10- 20- 30 NĂM TỚI

Dưới đây là một phân tích có cấu trúc – từ khái niệm → ứng dụng hiện tại →
dự báo 10–30 năm
, kết hợp góc nhìn khoa học, triết học khoa học và cả những
hệ quả nhận thức luận.

  1. CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ HIỆN NAY (2020S)
  2. Máy tính lượng tử (Quantum computing). Ứng dụng thực tế (đã có): Tối
    ưu logistics, tài chính (quantum annealing). Mô phỏng phân tử (hóa học, vật
    liệu). AI và machine learning tăng tốc. Bản chất khoa học: Máy tính lượng tử
    xử lý thông tin bằng qubit, cho phép tính song song theo cấp số mũ. Đây là ví
    dụ điển hình cho luận điểm của triết học khoa học: “Lý thuyết khoa học → công
    nghệ → thay đổi cấu trúc tri thức” (Ladyman), tư duy.
  3. Truyền thông lượng tử (Quantum communication). Ứng dụng: Quantum
    Key Distribution (QKD) – truyền thông “không thể nghe lén” . Bảo mật quốc gia, ngân hàng… Lý do quan trọng: Máy tính lượng tử có thể phá mã RSA truyền thống vào khoảng năm 2029- 2030. Đây là “cách mạng nhận thức về an ninh thông tin”.
  4. Cảm biến lượng tử (Quantum sensing): Ứng dụng: MRI, cảm biến từ
    trường, định vị không cần GPS, phát hiện vật thể cực nhỏ. Có một số công
    nghệ như MRI thực ra đã là công nghệ lượng tử ứng dụng từ lâu.
  5. Vật liệu và thiết bị lượng tử. Ví dụ: siêu dẫn, vật liệu topological, chip
    lượng tử. Tin mới cho biết: chip có thể hoạt động từ gần 0K đến 500°C, tứ đó
    mở ra ứng dụng không gian và quantum computing.
  6. Kết hợp AI và QT/lượng tử. Chẳng hạn: Nhật Bản tăng tốc “đánh cược”
    vào điện toán lượng tử: Nhắm thẳng thị trường 1,4 tỷ dân và cuộc chơi công
    nghệ nghìn tỷ USD6.
  7. DỰ BÁO TƯƠNG LAI (10–30 NĂM)
  8. Giai đoạn 2025–2035 (10 năm tới):

– Đặc điểm: Từ “thử nghiệm” chuyển sang “ứng dụng công nghiệp hạn chế”. Máy tính lượng tử đạt lợi thế thực tế trong một số bài toán ứng dụng chính: thiết kế thuốc nhanh hơn (pharma), tăng thêm vật liệu mới (pin, năng lượng sạch), tối ưu chuỗi cung ứng.

– Xu hướng: Quantum-as-a-service (dùng qua cloud): mạng lượng tử sơ khai (quantuminternet prototype).

  1. Giai đoạn 2035–2050 (20–30 năm):

– Máy tính lượng tử quy mô lớn. Hệ thống fault-tolerant quantum computers/ máy tính lượng tử chỉ lỗi với hàng triệu qubit và có thể mô phỏng toàn bộ phản ứng hóa học phức tạp, giải bài toán NP-hard nhanh hơn!

– Internet lượng tử: mạng máy tính lượng tử toàn cầu, bảo mật tuyệt đối, đồng bộ hóa cảm biến toàn cầu…

– Tác động đa ngành: (a)Y sinh: thiết kế thuốc “in silico” hoàn toàn, cá nhân hóa điều trị, (b) AI +Quantum: quantum machine learning, mô hình AI vượt giới hạn hiện tại, (c)Năng lượng – khí hậu: vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao, pin thế hệ mới.

– Tác động kinh tế – xã hội: giá trị hàng nghìn tỷ USD vào 2035–2050, thay đổi cấu trúc lao động (cần kỹ năng quantum).

  1. TỔNG KẾT VÀ TIẾP CẬN CỦA VIỆT NAM

– Hiện tại ở nước ta, Quantum đã có ứng dụng thực (MRI, tối ưu, bảo mật);

– 10 năm tới: ứng dụng công nghiệp hạn chế nhưng có giá trị lớn;

– 20–30 năm tới: có thể thay đổi toàn bộ khoa học tính toán, ảnh hưởng đến kinh tế, an ninh, tri thức.

– Việt Nam hiện nay đang bước đầu tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng công
nghệ lượng tử với chiến lược tập trung vào ba hướng mũi nhọn chính, nhằm bắt
kịp xu hướng toàn cầu và đảm bảo an ninh số, theo thông tin từ Mạng lưới đổi
mới sáng tạo và chuyên gia Công nghệ Lượng tử Việt Nam (VNQuantum).
Dưới đây là các loại công nghệ lượng tử Việt Nam đang chú trọng:
– Truyền thông lượng tử và mã hóa lượng tử (Quantum Communication &
Cryptography). Mục tiêu: Ứng dụng bảo mật cao trong lĩnh vực ngân hàng, tài
chính, thông tin liên lạc và quốc phòng. Trọng tâm: Nghiên cứu và triển khai
mạng thông tin lượng tử để bảo mật dữ liệu trước nguy cơ máy tính lượng tử có
thể “bẻ khóa” hệ thống bảo mật truyền thống.

– Cảm biến lượng tử (Quantum Sensing). Mục tiêu: Ứng dụng trong y tế (chẩn
đoán bệnh, phát triển thuốc), địa chất và công nghiệp. Trọng tâm: Phát triển các
thiết bị đo lường chính xác cao, như đồng hồ nguyên tử, ứng dụng trong định vị
và điều hướng. Điện toán lượng tử (Quantum Computing) với mục tiêu: Xây dựng
đội ngũ nhân lực và nghiên cứu thuật toán lượng tử, tối ưu hóa các bài toán phức
tạp. Trọng tâm: Nghiên cứu các thuật toán tối ưu hóa (optimize) trong logistics,
supply chain, tài chính và mô phỏng lượng tử.

Các bước đi chiến lược tại Việt Nam: NQuantum ra mắt (2025): Thiết lập diễn đàn kết nối chuyên gia, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp. Quyết định 1131(2025): Liệt kê công nghệ lượng tử là một trong 11 công nghệ chiến lược quốc gia. Trọng tâm nghiên cứu: Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) và Đại học Quốcgia TP.HCM đang tiên phong trong nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, hướng tới làm chủ công nghệ thay vì chỉ tiêu dùng. Việt Nam có lợi thế về nền tảng toán học và vật lý, nguồn nhân lực trẻ, và đang tập trung vào các hướng đi thực tiễn thay vì chỉ nghiên cứu lý thuyết thuần túy. Về cam kết chiến lược, Quyết định 1131/QĐ-TTg đưa công nghệ lượng tử vào danh mục chiến lược quốc gia là tín hiệu cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ. Nếu đầu tư có tính hệ thống, định hướng rõ ràng vào hai đến ba lĩnh vực ưu tiên và duy trì trong 10 đến 15 năm, Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành một trong những trung tâm công nghệ lượng tử khu vực, sở hữu các IP cốt lõi trongcác lĩnh vực đã chọn7.

V- THỰC TRẠNG NHỮNG HOẠT ĐỘNG TRÊN LĨNH VỰC VẤN ĐỀ
LƯỢNG TỬ HIỆN NAY Ở TPHCM, CHỦ YẾU VỀ TRIẾT HỌC LƯỢNG
TỬ, TƯ DUY LƯỢNG TỬ VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CƯU ĐẾN
NĂM 2030 VÀ 2050

1- Nhìn lại 4 năm qua:

  1. Ở Việt Nam, khu vực Hà Nội: Các tổ chức và hoạt động trên lĩnh vực công nghệ lượng tử, triết học và tư duy lượng tử hiện nay đang diễn ra dù chưa thật phổ biến (về công nghệ lượng tử thì mang tính chính thống nhưng về triết học lượng tử, tư duy lượng tử thì chưa). Có viện công nghê, trung tâm lượng tử… của Viện Hàn lâm khoa học công nghệ và của Đại học quốc gia Hà Nội và có một số hoạt động chương trình nghiên
    cứu triển khai giảng dạy triết học khoa học, trong đó có vấn đề triết học lượng tử,
    tư duy lượng tử như ở Trường ĐHKHXHNV, Trường ĐHSP Hà Nội…8.
  2. Ở TPHCM:

– Không kể ở lĩnh vực nghiên cứu công nghệ lượng tử. Hiện có Viện Triết học
Lượng tử và Trí tuệ Việt (ra đời từ tháng 11/2023, thuộc Hội Khoa học phát triển
Nguồn nhân lực nhân tài VN- TPHCM), Viện Triết học Phát triển (tich cực tham
gia nghiên ứu truyền thông khoa học lượng từ – triết học lượng tử – tư duy lượng
tử). Sau nghiên cứu cá nhân thì từ tháng 4/2023 đến nay đã có hơn một chục các
hoạt động hội thảo, tọa đàm, diễn dàn lượng tử, nhất là triết học và tư duy lượng
tử, xuất bản sách, báo cáo chuyên đề (cho một số đơn vị học viện chính trị khu
vực, hay trường đại học ở Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ, Nha Trang). Xuất bản hai
đầu sách riêng (Triết học lượng tử – tư liệu, vấn đề, lý giải) và cùng có 02 bài viết,
xuất bản hai cuốn khác. Mở giao lưu 4 – 5 diễn đàn Zalo thông tin khoa học
(khoảng hơn 400 người tham gia), cùng nhiều hình thức hoạt động khác…
– Về triết học lượng tử và tư duy lượng tử thì Viện Triết học lượng tử và Trí tuệ
Việt (THLT và TTV) [QVMP] mà TS Hồ Bá Thâm là Viện truởng tập trung
mấy năm nay (ghi trong Dự án nghiên cứu 2023- 2024 và bổ sung sau này cũng
như thực tế đã thực hiện) có 3 hệ vấn đề lớn:

        + Nghiên cứu khái quát triết học lượng tử – thông tin như một thống triết thuyết khoa học mới;

       + Mở rộng Chủ nghĩa duy vật biện chúng (CNDVBC) sang lĩnh vực lượng tử, thông tin, đề xuất bổ sung, tái cấu trúc, phát triển CNDVBC;

       + Phương pháp luận lượng tử, tư duy lượng tử và ứng dụng (2025). Có 4 chủ đề: (1) Biện chứng lượng tử, (2) hiệu ứng người quan sát lượng tử và bản thể luận, thực tại luận lượng tử; (3) vấn đề thông tin với bản thể luận và ý thức; (4) vấn đề ý thức từ lượng tử – thông tin và nhận thức luận. Từ đó vừa hướng tới phục vụ giảng dạy triết học vừa định hướng ứng dụng trong thực tiễn 9.

– Hiện nay Viện đang phối hợp hoạt động với Trung tâm CMCN 4.0, và
Liên hiệp các Hội KHKT TPHCM khởi động về vấn đề lượng tử, dù là bước đầu. Và từ khi có cơ sở pháp lý của Đảng bộ và Chinh quyền TPHCM sẽ có thể tạo ra bước phát triển mới, nhất là về công nghệ lượng tử. (Năm 2026, TP.HCM đề ra các
chỉ tiêu cụ thể: kinh tế số đóng góp khoảng 15% GRDP; quy mô kinh tế số đạt
tối thiểu 30% GRDP; đóng góp của KHCN, ĐMST và CĐS vào GRDP đạt
18%; năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp từ 60% trở lên vào tăng
trưởng. Thành phố cũng phấn đấu chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt
2% GRDP, đồng thời xây dựng lộ trình đến năm 2030 làm chủ một số công
nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn,
điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử và công nghệ
nano)10.
        2. Tầm nhìn, định hướng cho 10-20 năm tới và tóm tắt đề xuất nội dung
nghiến cứu cho TPHCM
(chủ yếu về triết học và tư duy lượng tử – thông tin (về công nghệ lượng tử sẽ có bài tham luận khác chuyên sâu hơn):

Có các hướng nghiên cứu chính cần chú trọng sau đây:

  1. Về nội dung nghiên cứu:

– Nghiên cứu cơ bản phục vụ công tác lý luận và tư tưởng, khoa học, giáo dục-  đào tạo như chủ động tiếp tục nghiên cứu xây dựng.

+ Nền tảng lý thuyết, cả giả thuyết mới để tạo lập triết học lượng tử – thông tin như một chuyên ngành triết học khoa học trung tâm và như một triết thuyết;

+ Đồng thời mở rộng CNDVBC sang lĩnh vực lượng tử – thông tin để
cập nhật, bổ sung, tái cấu trúc, và phát triển CNDVBC nói riêng, triết học Mác-Lênin nói chung. Và từ đó nhằm góp phần xây dựng nền triết học đương đại
Việt Nam công tác đào tạo triết học không chỉ ở TPHCM mà có tầm quốc gia.

– Tiếp theo là nghiên cứu về tư duy lượng tử, tư duy thông tin và định hướng
ứng dụng. Điều này rất thực tế gắn liền với hoạt động thực tiễn và đời sống của
con người, nhất là giới lãnh đạo, quản lý, danh nhân, nhà nghiên cứu và nhà giáo
dục… hướng dẫn nhận thức và hoạt động thực tế. Tức là góp phần làm rõ và định
hướng các vấn đề phát triển ở TPHCM trong kỷ nguyên mới (ví dụ Tư duy
lượng tử với việc quản trị siêu đô thị TPHCM trong kỷ nguyên mới – kế hoạch
đến nằm 2030 và tầm nhìn 2050, hay Tư duy Lượng tử- thông tin với công tác
lãnh đạo chính trị hiện nay ở nước ta, trường hợp TPHCM, v, v….)
từ bản chất của thế giới vi mô11.

  1. Về hình thức cách thức hoạt động: Về các hình thức hoạt động như nghiên
    cứu chuyên đề, đề tài, tọa dàm hội thào, diễn đàn, câu lạc bộ, xuất bản bài báo,
    sách chuyên luận… Thực tế chúng tôi đã và đang triển khai theo hướng này.
    c. Điều kiện thực hiện: Liên kết, hợp tác (trong khu vực TPHCM, cả nước và
    quốc tế) từ nhóm nhỏ đến các đơn vị khoa học, giáo dục- đào tạo, viện, trường
    và các hội khoa học, các đơn vị trong hệ thống đảng, nhà nước mặt trận. Xây
    dựng đội ngũ nghiên cứu và truyền thông khoa học nòng cốt và mở rộng mạng
    lưới các cộng tác viên.
  2. Cần khắc phục dần những hạn chế: Trong gần 4 năm gần đây từ cá nhân
    chủ động, đam mê khởi nghiệp nghiên cứu đến hình thành Viện, Nhóm nghiên
    cứu triết học lượng tử, tư duy lượng tử trong quan hệ với khoa hoc và công nghệ
    lượng tử, có kết quả bước đầu, lan toả đến khoảng 400 người quan tâm, có tác
    dụng tích cực, nhưng nguồn lực kinh phí hoạt động hầu như không có gì và còn
    ở phạm vi nhỏ bé, chưa phải là tầm quốc gia hay chính thống, nên khó khăn
    còn nhiều.
  3. Triển vọng trong 5 năm 10 năm tới sẽ có bước phát triển rộng và ngày
    càng chính thức, sẽ có tác dụng lớn hơn, trong đó chú trọng phối hợp cùng các
    đơn vị ở TPHCM để cùng nghiên cứu, ứng dụng, triển khai dần vào đời sống và
    phát triển của TPHCM trên một số lĩnh vực.

VI- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: KHÔNG CHỈ CÓ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ MÀ RẤT CẦN KHUYẾN
KHÍCH TẠO ĐIỀU KIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRIẾT HỌC VÀ
TƯ DUY LƯỢNG TỬ

Một là, sự phát triển tương lai của TPHCM phụ thuộc rất lớn vào vấn
đề lượng tử, phát triển theo tinh thần lượng tử

Từ tầm nhìn toàn cầu ta thấy nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu để dần dần triển
khai “vấn đề lượng tử” cả mặt công nghệ lượng tử, tư duy và nhân lực lượng tử
đối với sự phát triển hiện tại, nhất là tương lai của đất nước nói chung và
TPHCM nói riêng là hết sức quan trọng, có ý nghĩa cơ bản và đột phá, cụ thể
hoá quan điểm, chiến lược của Trung ương Đảng và của Đảng bộ TPHCM. Sự
phát triển của TPHCM trong tương lai từ nay đến 2050 phụ thuộc vào nhiều
nhân tố, điều kiện nhưng vấn đề nghiên cứu và ứng dụng lượng tử là một vấn đề
cốt lõi và trung tâm tạo đột phá, bứt phá trong phát triển nhất là từ năm 2030.
Không chỉ là công nghệ lượng tử mà rất quan trọng là triết học lượng tử, tư duy
lương tử.

Vậy kinh mong đảng bộ TPHCM hết sức quan tâm về vấn đề triết học và tư duy
lượng tử, khó, mới nhưng không thể sao nhãng này!

Hai là, không chỉ là chuyển đổi số/ chuyển dổi AI mà chuẩn bị cho
chuyển đổi lượng tử, kết hợp AI và lượng tử

Chúng ta đang tập trung cao độ vào quá trình chuyển đổi số/ AI trên cơ sở khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng cũng đang tạo tiền đề để nắm bắt cơ
hội nghìn năm có một, tiến cùng thế giới văn mnh bước vào chuyển đổi lượng tử.
Chuyển đổi số, công nghệ số hóa, AI hóa là một cuộc thay đổi khá cơ bản so với
tư duy truyền thống, thao tác tư liệu, tri thức, thông tin bằng thủ công nhưng vẫn
nằm trong tư duy tân tiến cổ điển hệ thông tin 0 và 1. Chuyển đổi lượng tử là
thực hành công nghệ thông tin lượng tử 0 và 1, 0 và 0, 1 và 1, 0 và 0… tất cả
đồng thời sắp tới chính là bắt nhịp với cuộc cách mạng lượng tử lần thứ hai với
tốc độ tính toán nhanh, đồng thời chưa từng có, thực sự phát triển đất nước hay
địa phương như TPHCM – siêu đô thị văn minh năng động bậc nhất nước này; đó
là phát triển kiểu mới, phi cổ diển, phi truyền thống theo tinh thần lượng tử chưa
từng có.

Do vậy phải chủ động nghiên cứu đón đầu, bắt nhịp cùng nghiên cứu, cùng ứng
dụng, cùng phát triển và tranh thủ cơ hội, thời gian chủ động, tránh bất cập “nước
đến chân mới nhảy” như trước đây, bõ lỡ cơ hội vàng.

Ba là, nên tăng cường đầu tư tăng dần tỉ lệ nghiên cứu về triết học,
tư duy lượng tử so với công nghệ lượng tử, không để chênh lệch quá.

Nếu chậm chân, sao nhãng nghiên cứu về triết học và tư duy lượng tử sẽ không
những tụt hậu, bất cập và mất phương hướng khi đã ưu tiến công nghệ lượng tử!
Cố nhiến không thể để triết học và tư duy lượng tử xa rời thực tiễn đương
đại…VIỆT NAM CẦN CHỦ ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG TƯ
DUY LƯỢNG TỬ NGAY TỪ ĐẦU VÀ CÙNG ĐỒNG HÀNH VỚI KỶ
NGUYÊN AI VÀ NGUYÊN LƯỢNG TỬ. Như vậy, không chỉ nghiên cứu lý
luận chính trị mà CẦN CẢ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ!
Cấn hiểu “vấn đề lượng tử”- hệ sinh thái lượng tử một cách biện chứng. Một hệ
sinh thái lượng tử toàn diện và có trọng tâm và không tách rời các hệ sinh thái
cộng hưởng cộng sinh khác. Nhưng trong vấn đề lượng tử, không cần chở đợi để
tiếp nhận mà phải cùng đồng nghiên cứu – sáng tạo và cùng đồng phát triển với
thế giới, vì nó chỉ mới ở giai đoạn ban đầu. Tất nhiên không chỉ ưu tiên, dù là
phải như thế trong việc nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ lượng tử,
nghiên cứu lựa chọn phát triển và ứng dụng mà phải chủ động cùng nghiên cứu,
tiếp thu và đồng sáng tạo trên lĩnh vực triết học, tư duy lượng tử – nền tảng sức
mạnh mềm của sự phát triển. Nếu tách rời và chậm chân sẽ không những tụt hậu
về triết học khoa học, về tư duy lượng tử – thông tin, hậu cổ điển mà còn lúng
túng, thiếu công cụ nhận thức tư duy mới để nhận thức và giải quyết những vấn
đề hóc búa, mới, phi truyền thống của quá trình hội nhập và phát triển mang bất
định, phi tuyến rất khó dự đoán hoặc bỏ qua nhiều khả năng, cơ hội!
Đề nghị các cấp đảng, chính quyền cùng đoàn thể hội đoàn cấp TPHCM
tạo điều kiện và có chính sách động lục khuyến khích cho hoạt động nghiên cứu,
ứng dụng phát huy khoa học, triết học, tư duy lượng tử được thuận lợi hơn nữa,
có tác dụng hơn nữa!

Bốn là, tầm nhìn và chương trình hành động nghiên cứu lượng tử cụ
thể
TPHCM cần có tầm nhìn, chiến lược nghiên cứu và chính sách, chuẩn bị văn
hóa và nhân lực về vấn đề lượng tử, trong đó chú trọng hơn thúc đẩy nghiên cứu
và ứng dụng cả công nghệ lượng tử và triết học lượng tử, tư duy lượng tử trong
các hoạt động xây dựng chiến lược, chính sách phát triển và tổ chức thực hiện
quá trình đó. Từ tầm nhìn chung, có thể xác định nhiệm vụ trọng tâm từng thời
kỳ (từ chuẩn bị, định hướng đến chính sách, kế hoạch thực thi). Đây không chỉ
là công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học mà còn là quá trình gắn với
nghiên cứu thực tiễn, tổng kết thực tiễn từ tầm nhìn quốc tế, quốc gia và thành
phố để định hướng tương lai, quyết định thành công!

Sẽ thuận lợi hơn, thu hút, thúc đẩy lực lượng rộng hơn nếu từ cấp Trung ương
đến cấp TPHCM cần có chủ trương chính thức chương trình nghiên cứu triết học
lượng tử, tư duy lượng tử trong khung chung triết học khoa học phải là một
hướng góp phần nâng tầm trí tuệ, đổi mới tư duy và góp phần đào tạo nhân lực
lượng tử. Ở góc độ lý thuyết cơ bản thì chương trình xây dựng, phát
triển triết học – lượng tử – thông tin là nhằm phục vụ hoạt động đào tạo cán bộ,
phát triển nhân lực. Còn ở góc độ trực tiếp ứng dụng thì đó là chương trình nghiên
cứu ứng dụng tư duy lượng tử – thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động phát triển
và lãnh đạo, quản trị phát triển TPHCM (Tất nhiên phải cụ thê hóa thành nhiều
đề tài, chủ đề thực hiện từng thời kỳ).

Năm là, tăng cường truyền thông và mở lớp bồi dưỡng, tạo điều kiện để nhiều
người có thể tự tìm hiểu cập nhật kiến thức lượng tử và tư duy lượng tử

Với tri thức, phương pháp luận và phương pháp tư duy mới, khó, phi truyền
thống như như lượng tử và thông tin, thì cần từng bước, không chỉ tự nghiên
cứu, tự tìm hiểu mà cần có hoạt động truyền thông, báo cáo chuyên đề hoặc mở
lớp bồi dưỡng kiến thức mới, phương pháp tư duy mới cho giới trẻ, những nhà
trí thức trẻ, những cán bộ lãnh đào quản lý từng bước, “mưa dần thấm lâu”, sau
một thời gian sẽ có kiến thức cơ bản, nền tảng để hiểu triết học mớ, nhất là tư
duy lượng tử, từ đó mà ứng dụng vào thực tế công tác và đời sống trong giai
đoạn mới của sự phát triển đất nước. Chương trình triết học – tư duy lượng tử đối
với chiến lược, chính sách phát triển của TPHCM trong kỷ nguyên mới không
chỉ là nghiên cứu mà còn là truyền thống, đưa tri thức và tư duy lượng tử vào
đời sống. Phải có nhiều hình thức hoạt động truyền thông thích hợp, sinh động,
chính thức và phi chính thức. Thực tế Viện THLT- TTV và Nhóm Tư duy lượng
tử và ngay bản thâm Chương trình triết học khoa học của PGS, TS Nguyễn
Hoàng Hải- Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) trong mấy năm qua cũng đã
từng bước làm như vậy.

Sáu là, tăng cường lực lượng, kết nối chuyên gia nghiên cứu lượng tử,
tư vấn lượng tử

Xây dựng lực lượng, bộ máy và tổ chức nghiên cứu chuyên đề, đề tài, hội thảo,
mở các diễn đàn, truyền thông các kết quả nghiên cứu định hướng phù hợp
chính sách, chiến lược lượng tử (công nghệ lượng tử, tư duy lượng tử – như hai
chân cơ bản của vấn đề lượng tử). Tạo thuận lợi, tạo động lực, kết hợp công tư
thúc đẩy nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về vấn đề lượng tử. Phối
hợp và tập hợp lực lượng nòng cốt (viện, trung tâm nhân lực) cả trong và ngoài
nước nghiên cứu và định hướng, tham mưu chính sách ứng dụng, phát triển công
nghệ lượng tử, triết học lượng tử và tư dưy lượng tử trước hết trên địa bàn
TPHCM.
Bảy là, chuẩn bị và có chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân
lực lượng tử

Vấn đề chính sách và thực thi đào bồi dưỡng nguồn nhân lực cho vấn đề lượng tử
cả về cán bộ, nhân lực khoa học lượng tử, công nghệ và triết học, tư
duy lượng tử chuẩn bị trong tương lai phát triển của TPHCM là vấn đề có tính
quyết định. Kết hợp đào tạo chuyên gia lượng tử trong nước và nước ngoài, tự
đào tạo và đào tạo, sử dụng, trong dụng nhân tài lượng tử. Phải có tầm nhìn xa
và chương trình kế hoạch thực thi. NẾU Không có nguồn nhân lực lượng tử đi
trước và đáp ứng nhu cấu phát triển theo TINH THẦN LƯỢNG TỬ thì các ý
tưởng hay đường lối chính sách rất khó thành hiện thưc, thậm chí mất cơ hội.

Tám là, đã có tiền đề và nhu cầu thực tiễn, kinh nghiệm nghiên cứu
triển khai bước đầu. Tính khả thi cho tầm cao mới, giai doạn mới!
Từ hoạt động của Viện Triết học Lượng tử và Trí tuệ Việt ở TPHCM cùng Ban
chủ nhiệm Chương trình Triết học khoa học do PGS TS Nguyễn Hoàng Hải
(ĐHQGHN) trong mấy năm qua nghiên cứu và triển khai cụ thế về mặt triết học
khoa học, trong đó đặc biệt chú ý là triết học lượng tử, tư duy lượng tử đã thực
hiện ở một số viện, trường đại học và học viện chính trị khu vực hai, khu vực đô
thị, đặc biệt là ở Hà Nội và TPHCM, thì những đề xuất ở trên là có tiền đề, kinh
nghiệm thực tế là khả thi. Và hiện nay Viện Triết học Lượng tử và Trí tuệ Việt
với Khoa Triết – Trường Đại học KHXHNV thuộc ĐHQGHN, hay Viện Trí Việt
và gần đây là với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TPHCM và Trung
tâm Cách mạng công nghiêp 4.0 tại TPHCM càng chứng minh điều đó. Dù rằng
ở Việt Nam thì đây chỉ là giai đoạn khởi đầu, nhỏ lẻ nhưng đã đi trước một bước
so với chính sách phát triển công nghệ lượng tử. Thời cơ, cơ hội và nhu cầu thực
tiễn trực tiếp đã đặt ra và đã đến không còn mơ màng, xa vời như những năm cuối thế
kỷ XX và hơn 20 năm đầu thế kỷ XXI. Bây giờ thời đã khác.

Tóm lại, bài viết trên đây là phác thảo một tầm nhìn dài hạn và những nhiệm
vụ, bước đi trước mắt về vấn đề lượng tử và tương lai phát triển của
TPHCM
!

Chú thích:

.1 Bài tham luận này trong khuôn khổ hội thảo do Liên hiệp Các Hội khoa và Kỹ thuật TPHCM chủ trì.

2 NCVCC, TS, Viện trưởng Viện Triết học Lượng tử và Trí tuệ Việt/ Hội Khoa học phát triển Nguồn nhân lực,
nhân tài VN-TPHCM.

3 https://tiasang.com.vn/cuoc-dua-luong-tu-o-dong-nam-a-4966123.html/ tru cập ngày 5/5/2026.

4 Các tỉ lệ phần trăm trong phần đánh giá chỉ mang tính ước lượng định tính nhằm mô tả xu hướng ưu tiên chính
sách, không phải số liệu ngân sách chính thức.

5Tài liệu trích dẫn chính: Busemeyer, J. R., & Bruza, P. D. (2012). Quantum Models of Cognition and Decision.
Cambridge University Press.; Khrennikov, A. (2010). Ubiquitous Quantum Structure: From Psychology to
Finance
. Springer.

6 https://cafef.vn/nhat-ban-tang-toc-danh-cuoc-vao-dien-toan-luong-tu-nham-thang-thi-truong-14-ty-dan-vacuoc-choi-cong-nghe-nghin-ty-usd-188260507133254075.chn, cập nhật 8/5/20206.

7Công nghệ lượng tử và cơ hội của Việt Nam/ Huyền Thương (Thực hiện)/19/02/2026/
https://vneconomy.vn/techconnect/cong-nghe-luong-tu-va-co-hoi-cua-viet-nam.htm/ truy cập 6/5/2026/ Bản
quyền thuộc về VnEconomy, Tạp chí điện tử của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam/ Giấy phép Tạp chí điện tử
số:272/GP-BTTTT ngày 26/6/2020.

8 Chương trình, nội dung đào tạo ngành triết học hiện nay thiếu nhất là: triết học đương đại, nhất là triết học
khoa học như triết học lượng tử- thông tin
, hầu như chỈ dừng lại dạy triết học Mác- Lênin và lịch sử triết học
mà thôi!

9 Theo tổng hợp, giới thiệu, đánh giá chung của giới đồng nghiệp qua các diễn đàn cho thấy: NCVCC, TS Hồ
Bá Thâm là chuyên gia nổi bật tại Việt Nam nghiên cứu về triết học lượng tử, trí tuệ Việt và tư duy lượng tử.
Ông tập trung làm rõ bản thể luận, thực tại luận thông qua vật lý lượng tử và thông tin, gợi mở tư duy mới từ
khoa học và triết học lượng tử. Các nội dung chính trong nghiên cứu của TS. Hồ Bá Thâm về triết học lượng tử:
Về tính biện chứng lượng tử, ông đã tập trung phân tích sự kết hợp giữa vật lý lượng tử và các khái quát triết học.

10TP.HCM tăng tốc bứt phá khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số/https://tcnnld.vn/news/detail/71476/TP.HCM-tang-toc-but-pha-khoa-hoc—cong-nghe-doi-moi-sang-tao-vachuyen-doi-so.html (Tạp chí Nhà nước và lao động, thuộc Bộ Nội vụ)/ cập nhật 6/5/2026.

11Về lượng tử- thông tin với vấn đề bản thể luận, TS. Hồ Bá Thâm nghiên cứu sâu về các vấn đề bản thể luận trong triết học khoa học, đặc biệt là mối liên hệ giữa lượng tử, thông tin và triết học.Về hệ thống hóa triết học mới, ông không chỉ tiếp thu mà còn xới mở, gợi mở những vấn đề mới trong triết học vật lý, tổng hợp triết học lượng tử – thông tin trong các công trình nghiên cứu của mình. Với hơn nửa thế kỷ hoạt động, ông đã công bố nhiều đề tài và sách chuyên luận, và những năm gần đây ông dấn thân, chuyển pha và quan tâm đặc biệt tới triết học khoa học, triết học lượng tử, tư duy lượng tử mamg tính tiên phong, đột phá. Ông có một số ý tưởng triết học mới, và đã đề xuất thuyết vô hình luận vật chất và ba tầng thực tại trong quan hệ với CNDVBC, hoặc xây dựng triết học lượng tử- thông tin như một hệ thông triết thuyết trung tâm của triết học khoa học hiện đại ngày nay!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Tài liệu của Đảng và Nhà nước, chính quyền:

1.1. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ngày 27 tháng 6 năm 2025;

1.2. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

1.3. Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi
tiết về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

1.4. Quyết định số 2815/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm
công nghệ chiến lược;

1.5. Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Danh mục công nghệ chiến lược.

1.5. Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2021 – 2030; Chiến lược phát triển khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

1.6. Nghị quyết, chương trình phát triển của Thành phố về chuyển đổi số, đô thị thông minh,
kinh tế số – kinh tế xanh, phát triển trung tâm tài chính, trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực.

1.7. Tổng kết thực tiễn triển khai các chương trình khoa học và công nghệ giai đoạn 2021 –
2025 và yêu cầu đặt ra giai đoạn 2026 – 2030.

1.8 Dự thảo (2026) chương trình Nghiên cứu khoa học – phát triển công nghệ và nâng cao
tiềm lực khoa học và công nghệ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 – 2030. (Ban hành kèm theo Quyết định số QĐ/UBND ngày tháng 01 năm 2026 của Ủy bannhân dân Thành phố).

2- Tài liệu nước ngoài

2.1. Tác giả: Roland Omnès (2002): Triết học lượng tử (Quantum Philosophy). Nội dung:
Khám phá sự phát triển hiện đại trong cơ học lượng tử để khôi phục lại quan điểm thông thường
về thế giới.

2.2.Max Jammer (1974): Triết học về cơ học lượng tử (The Philosophy of Quantum
Mechanics). Một trong những tài liệu kinh điển phân tích sâu sắc các khía cạnh triết học của lý
thuyết lượng tử.

2.3. Bruce Rosenblum & Fred Kuttner (206, 2011): Quantum Enigma: Physics Encounters
Consciousness/Bí ẩn lượng tử: Vật lý giao thoa với ý thức. Thảo luận về việc ý thức con người có
ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm lượng tử hay không.

2.4. Sean Carroll (2019) Something Deeply Hidden. Giới thiệu về cách giải thích đa thế giới
(Many-Worlds Interpretation) và triết học đằng sau nó.

2.5. Sean Carroll: (2024) Điều gì đó ẩn sâu, thế giới lượng tử và không thời gian đột sinh,
Nxb Trẻ.

2.6. Carlo rovelli (2021): Thực tại không như ta tưởng, Nxb trẻ.

2.7. Busemeyer, J. R., & Bruza, P. D. (2012). Quantum Models of Cognition and Decision.
Cambridge University Press.; Khrennikov, A. (2010). Ubiquitous Quantum Structure: From
Psychology to Finance
. Springer.

3- Tài liệu điện tử trên mạng xã hội

3.1. Anh Vũ (tổng hợp): Cuộc đua lượng tử ở Đông Nam Á, https://tiasang.com.vn/cuoc-dualuong-tu-o-dong-nam-a-4966123.html/ tru cập nhật ngày 5/5/2026.

3.2.Huyền Thương (Thực hiện): Công nghệ lượng tử và cơ hội của Việt Nam /19/02/2026/
cập nhật 7/5/2026/ https://vneconomy.vn/techconnect/cong-nghe-luong-tu-va-co-hoi-cua-vietnam.htm.

3.3. TP.HCM tăng tốc bứt phá khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số/https://tcnnld.vn/news/detail/71476/TP.HCM-tang-toc-but-pha-khoa-hoc—cong-nghe-doimoi-sang-tao-va-chuyen-doi-so.html (Tạp chí Nhà nước và Lao động, thuộc Bộ Nội vụ)/ cập
nhật 6/5/2026.

4- Tài liệu của chính tác giả bài viết

4.1: Hồ Bá Thâm (2024): Triết học lượng tử (tư liệu, vấn đề, lý giải) tập 1, Nxb Đại học quốc gia TPHCM.

4.2. Hồ Bá Thâm (2025): Triết học lượng tử (tư liệu, vấn đề, lý giải) tập 3, Nxb Tri thứ.

4.3. Hồ Bá Thâm (bản thảo): Triết học lượng tử (tư liệu, vấn đề, lý giải) tập 2.

4.4. Hồ Bá Thâm: Triết học lượng tử với việc đổi mới và phát triển trí tuệ Việt, sách Trí Việt
học từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, Nxb Khoa học xã hội (KHXH), 2024 (tr.87-141).

4.5. Hồ Bá Thâm (2024): Vấn đề nghiên cứu và giáo dục lý luận triết học dưới ánh sáng từ vật
lý lượng tử- Từ kinh nghiêm ban đầu, đã in trong sách của Đại học quốc gia TPHCM- Trung
tâm lý luận chính trị – Tiếp tục đổi mới công tác lý luận chính trị trong các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam, Nxb. KHXH, 2024 (249-273).

4.6. Tư duy lượng tử nghiên cứu và định hướng ứng dụng (tóm tắt thảo luận), tập 1 và 2 (bản
thảo tập 1 đang biên tập xuất bản).

4.7. Một số bản thảo sách về triết học lượng tử- thông tin; và vô hình luận vật chất với cấu
trúc thực tại; mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng sang lĩnh vực lượng tử, thông tin với
việc tái cấu trúc và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư duy lượng tử- nghiên cứu và
ứng dụng…

4.8. Các bài báo cáo chuyên đề về triết học lượng tử tại khoa Triết học học Trường đại học
khoa học xã hội và nhân tai ĐHQGHN (2023, 2026) [ https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/khoa hoc/triet-hoc-khoa-hoc-luong-tu-thong-tin-voi-van-de-ban-the-luan-23998.html]; Khoa triết Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2023); Viện Trí Việt (2023, 2025); Học viện chính trị khu vực IV (2024); Học viện chính trị khu vực II (2025) [https://hcma2.hcma.vn/Pages/chi-tiettin.aspx?ItemID=3756], Trường đại học Thái bình Dương (2025); Viện Triết học Phát triển (2024)…

  1. Tác giả khác: Nguyễn Hoàng Hải (2022): Cơ học lượng tử từ nguyên lý đến ngyên tử. Nxb
    Đại học quốc gia Hà Nội.

6- Bài viết có hỗ trợ từ AI về một số nội dung.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*