HỘI THẢO- BÀI 5: CÔNG NGHIỆP SINH HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – TIỀM NĂNG, CƠ HỘI VÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN

PGS.TS. Trương Hải Nhung1,2;  GS.TS. Trần Linh Thước 1,2
1-Trường ĐH Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Tp.HCM
2-Hội Sinh học và Công nghệ sinh học Tp.HCM


         Công nghiệp sinh học (CNSH) đang trở thành ngành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế tri thức, giữ vai trò chiến lược trong y tế, nông nghiệp công nghệ cao, môi trường và kinh tế xanh.Trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh định hướng trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu Đông Nam Á, công nghiệp sinh học được xem là lĩnh vực có tiềm năng đột phá nhờ sự hội tụ của hệ sinh thái đại học nghiên cứu, bệnh viện chuyên sâu, doanh nghiệp công nghệ cao và hạ tầng đổi mới sáng tạo.

        Bài viết phân tích tiềm năng và động lực phát triển công nghiệp sinh học tại TP.Hồ Chí Minh trên cơ sở các định hướng quốc gia và Danh mục công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg. Nội dung tập trung vào các công nghệ nền tảng như công nghệ gene và omics, tế bào gốc, vi sinh – protein, vật liệu sinh học, sinh học số và AI; đồng thời nhấn mạnh vai trò của ĐHQG-HCM, Hội Sinh học – CNSH TP.Hồ Chí Minh, Trung tâm CNSH TP.Hồ Chí Minh và Khu Công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh trong hình thành hệ sinh thái nghiên cứu – sản xuất – thương mại hóa sản phẩm CNSH. Bài viết cũng đề xuất các cơ chế sandbox, BioHub và liên minh R&D nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2026–2030.

  1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, công nghệ sinh học đã vượt ra khỏi phạm vi của một lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu để trở thành nền tảng của nhiều ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Các công nghệ về gene, tế bào, vi sinh, protein tái tổ hợp và sinh học số đang tác động trực tiếp đến y tế, nông nghiệp, môi trường và công nghiệp chế biến.

Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị1, Việt Nam đặt mục tiêu đưa công nghệ sinh học trở thành ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng và thuộc nhóm dẫn đầu châu Á trong một số lĩnh vực. Đối với TP.Hồ Chí Minh, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực phát triển chủ đạo trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh đó, công nghiệp sinh học là một trong những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao 2, 3 và thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng của Thành phố. Theo OECD và World Economic Forum, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu dự báo sẽ đóng góp trên 2.700 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn tới, trong khi thị trường liệu pháp tế bào, liệu pháp gen, vaccine thế hệ mới và sinh học số đang tăng trưởng hằng năm 2, 3.

TP.Hồ Chí Minh hiện sở hữu hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học lớn nhất cả nước với sự tham gia của ĐHQG-HCM, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh, hệ thống bệnh viện chuyên sâu, doanh nghiệp công nghệ và mạng lưới chuyên gia thuộc Hội Sinh học – CNSH TP.Hồ Chí Minh. Sự kết nối giữa các cấu phần này tạo điều kiện hình thành chuỗi nghiên cứu – thử nghiệm – sản xuất – thương mại hóa sản phẩm sinh học.
Đối với TP.Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, nơi tập trung mạng lưới bệnh viện tuyến cuối, hệ thống đại học nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lớn nhất Việt Nam – đây là thời điểm chiến lược để hình thành nền công nghiệp sinh học có năng lực nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam.

  1. Nền tảng công nghệ: Động cơ bứt phá của các chuyên gia liên ngành Sự hội tụ giữa các công nghệ lõi và đội ngũ nhân lực chất lượng cao là nền tảng để làm chủ các công nghệ chiến lược quốc gia theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg 4.
  2. Làm chủ các công nghệ nền tảng chiến lược

Với lợi thế hội tụ hệ sinh thái nghiên cứu – ứng dụng lớn nhất cả nước, TP.Hồ Chí Minh đang từng bước hình thành năng lực làm chủ các công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến theo định hướng công nghệ chiến lược quốc gia. Sự kết nối giữa ĐHQG-HCM, Hội Sinh học – CNSH TP.HCM, Trung tâm CNSH TP.HCM, Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP/SHTP Labs), hệ thống bệnh viện chuyên sâu và doanh nghiệp công nghệ đang tạo nền tảng quan trọng cho phát triển công nghiệp sinh học theo hướng tích hợp nghiên cứu – thử nghiệm – sản xuất – thương mại hóa.
Các nhóm công nghệ trọng điểm gồm:

Công nghệ gene, omics, sinh học số và AI

TP.Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh phát triển các công nghệ genomics, multi-omics, eDNA, DNA barcoding, bioinformatics và AI phục vụ y học chính xác5, giám sát đa dạng sinh học và nông nghiệp thông minh. ĐHQG-HCM và các đơn vị nghiên cứu của Thành phố bước đầu hình thành năng lực phân tích dữ liệu sinh học lớn, thiết kế thuốc in-silico, mô phỏng sinh học và xây dựng cơ sở dữ liệu hệ gen người Việt, vi sinh vật và tài nguyên sinh học bản địa.
Công nghệ tế bào, kỹ nghệ mô và y học tái tạo

Các nhóm nghiên cứu tại ĐHQG-HCM cùng hệ thống bệnh viện và doanh nghiệp y sinh đang phát triển các công nghệ tế bào gốc, tế bào miễn dịch, kỹ nghệ mô và in sinh học 3D phục vụ điều trị bệnh, tái tạo mô và y học cá thể hóa. Đồng thời, công nghệ tế bào thực vật và động vật cũng được thúc đẩy nhằm bảo tồn nguồn gen, sản xuất sinh khối và phát triển protein thay thế.
Công nghệ vi sinh, protein tái tổ hợp và chế phẩm sinh học

Đại học Quốc gia Tp.HCM, Trung tâm CNSH TP.HCM cùng các viện – trường và doanh nghiệp đang tập trung phát triển các nền tảng công nghệ vi sinh, enzyme – protein và protein tái tổ hợp phục vụ sản xuất vaccine, thuốc sinh học, chế phẩm sinh học cho y tế, nông nghiệp, thú y và thủy sản. Đây là nhóm công nghệ có tiềm năng hình thành các sản phẩm sinh học “Make in Vietnam” phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.

– Công nghệ vật liệu sinh học, nano và thiết bị y sinh

Đại học Quốc gia Tp.HCM, Khu Công nghệ cao TP.HCM đang tạo điều kiện thúc đẩy các nghiên cứu liên ngành giữa sinh học – vật liệu – vi điện tử – AI, hướng đến phát triển công nghệ vi lưu, cảm biến sinh học, hệ dẫn truyền thuốc, vật liệu sinh học, nano sinh học và thiết bị y tế thông minh. Các nền tảng này có vai trò quan trọng trong phát triển kit chẩn đoán nhanh, hệ nano nhắm đích, vật liệu y sinh tiên tiến và các công nghệ phục vụ y học hiện đại. Các định hướng công nghệ này phù hợp trực tiếp với Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, trong đó “Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến” được xác định là một trong các công nghệ chiến lược quốc gia. Đồng thời, các sản phẩm như vaccine thế hệ mới, liệu pháp tế bào, hệ thống sản xuất y tế cá thể hóa ứng dụng công nghệ in 3D, cảm biến sinh học thông minh và giống thế hệ mới cũng đã được đưa vào Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia. Điều này cho thấy công nghiệp sinh học không còn nằm ở quy mô nghiên cứu thử nghiệm riêng lẻ, mà đã trở thành cấu phần của chiến lược tự chủ công nghệ quốc gia và năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

b.Nguồn lực chuyên gia dồi dào

TP.Hồ Chí Minh hiện sở hữu hệ sinh thái CNSH lớn nhất cả nước với đội ngũ nhà khoa học và chuyên gia đa ngành, mạng lưới phòng thí nghiệm trọng điểm, bệnh viện chuyên sâu và doanh nghiệp công nghệ cao. Không chỉ sở hữu nguồn nhân lực khoa học lớn, TP.HCM còn có hệ thống hạ tầng nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh phục vụ CNSH và công nghệ cao. Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM đóng vai trò là đơn vị nghiên cứu ứng dụng và triển khai các công nghệ trong lĩnh vực công nghệ gen, vi sinh, công nghệ tế bào thực vật, công nghệ enzyme – protein và nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời là đầu mối triển khai nhiều chương trình phục vụ phát triển nông nghiệp đô thị và công nghệ sinh học của Thành phố.Trong khi đó, SHTP Labs thuộc Khu Công nghệ cao TP.HCM là mô hình phòng thí nghiệm công nghệ cao theo chuẩn quốc tế, tập trung vào các lĩnh vực vi mạch– bán dẫn, công nghệ nano, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học và tích hợp hệ thống. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu liên ngành giữa sinh học – vật liệu – vi điện tử – AI và hình thành các sản phẩm công nghệ cao có khả năng thương mại hóa.Việc hình thành mạng lưới liên kết giữa các đơn vị nghiên cứu nền tảng nàysẽ giúp TP.HCM từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu – thử nghiệm –sản xuất đồng bộ, thay vì phát triển rời rạc theo từng nhóm nghiên cứu riêng lẻ.

  1. Hệ sinh thái nghiên cứu và hạ tầng đổi mới sáng tạo phục vụ công nghiệp
    sinh học

TP.Hồ Chí Minh hiện là địa phương có hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học lớn nhất cả nước, với sự hiện diện đồng thời của hệ thống đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu, bệnh viện chuyên sâu, khu công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ và các đơn vị hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp sinh học theo hướng tích hợp giữa nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm. ĐHQG-HCM hiện sở hữu mạng lưới phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu trong các lĩnh vực sinh học phân tử, công nghệ gene, tế bào gốc, y sinh học tái tạo, vi sinh, công nghệ protein, vật liệu sinh học và tin sinh học. Trong khi đó,Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM đóng vai trò nghiên cứu ứng dụng và phát triển quy trình công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ gen, vi sinh, công nghệ tế bào thực vật, enzyme – protein và nông nghiệp công nghệ cao.
Khu Công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh tạo điều kiện thúc đẩy các nghiên cứu liên ngànhgiữa sinh học, vật liệu, vi điện tử và AI; đồng thời hỗ trợ thử nghiệm công nghệ, hoàn thiện quy trình và kết nối doanh nghiệp công nghệ cao. Hệ thống bệnh viện chuyên sâu và doanh nghiệp y sinh của Thành phố cũng góp phần hình thành chuỗi nghiên cứu lâm sàng – tiền lâm sàng và thị trường ứng dụng cho các sản phẩm CNSH.

Theo định hướng của Dự thảo Chương trình KHCN TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2026–2030, Thành phố đặt mục tiêu tổng chi cho R&D đạt 2–3% GRDP; số bài báo Scopus/ISI đạt trên 3.500 bài/năm; đồng thời hình thành tối thiểu 05 trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tiệm cận trình độ quốc tế (CoE)6. Đây là điều kiện thuận lợi để TP.Hồ Chí Minh phát triển các trung tâm nghiên cứu – sản xuất sinh học quy mô lớn trong các lĩnh vực y sinh học, công nghệ tế bào, công nghệ gene, vaccine và sinh học số.

Thực tiễn cho thấy nhiều công nghệ đã bước đầu được triển khai tại Thành phố như hệ thống chẩn đoán phân tử, protein tái tổ hợp, liệu pháp tế bào gốc, vật liệu y sinh, peptide kháng khuẩn và các nền tảng AI trong phân tích dữ liệu y sinh. Các hoạt động này đang từng bước hình thành chuỗi giá trị công nghiệp sinh học từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất và ứng dụng thực tiễn.

  1. Sản xuất sinh học và các sản phẩm chiến lược phục vụ Thành phố và Quốc gia

Chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030 tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia.

  1. Đóng góp cho an ninh y tế và chăm sóc sức khỏe

Sau đại dịch COVID-19, bài toán tự chủ công nghệ y sinh đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia. Năng lực phát triển vaccine, sinh phẩm chẩn đoán, công nghệ RNA, công nghệ tế bào và sản xuất protein tái tổ hợp không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn quyết định khả năng ứng phó với khủng hoảng y tế trong tương lai7.
Trong xu hướng toàn cầu, công nghệ sinh học đang chuyển mạnh từ mô hình “phản ứng với bệnh” sang “y học chính xác và y học dự đoán”8.9. Điều này đòi hỏi TP.HCM cần sớm hình thành hạ tầng dữ liệu sinh học – y tế tích hợp AI, cơ sở dữ liệu hệ gen người Việt và hệ thống nghiên cứu lâm sàng – tiền lâm sàng liên thông giữa viện, trường và bệnh viện. Đây cũng là nội dung trọng tâm đã được Thành phố đưa vào Chương trình nghiên cứu phục vụ y tế và chăm sóc sức khỏe giai đoạn 2026–2030.

  1. Đóng góp cho nông nghiệp đô thị và sản phẩm xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, công nghệ sinh học nông nghiệp cần được nhìn nhận không chỉ là giải pháp tăng năng suất mà còn là công cụ bảo đảm an ninh sinh học, an ninh lương thực và phát triển kinh tế xanh 10, 11. Đối với TP.HCM và vùng Đông Nam Bộ, công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt trong phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp tuần hoàn và công nghệ sau thu hoạch. Các công nghệ chỉnh sửa gene, vi sinh vật chức năng, công nghệ enzyme, công nghệ protein thay thế và sinh học số sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm nông nghiệp giá trị cao, giảm phát thải và tăng khả năng thích ứng khí hậu. Đây cũng là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển Net Zero và kinh tế tuần hoàn mà Thành phố đang ưu tiên triển khai. Phù hợp với chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố, các chuyên gia tập trung vào:
Vắc xin và chế phẩm sinh học thú y – thủy sản: Một số công nghệ đã được triển khai gồm kit chẩn đoán bệnh thủy sản, chế phẩm thực khuẩn thể, protein tái tổ hợp và giống chỉnh sửa gene thích ứng khí hậu.
Giống cây trồng, vật nuôi thế hệ mới: Lúa và hoa cúc chỉnh sửa gen kháng mặn, chịu hạn thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chế biến sâu và sinh khối: Công nghệ trích ly xanh, sản xuất hoạt chất từ tảo biển và thịt nhân tạo.

  1. Đóng góp cho môi trường và phát triển bền vững (Net Zero)

Công nghiệp sinh học đang trở thành một trong các công cụ quan trọng hỗ trợ chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn 12, 13. Đối với TP.HCM – đô thị có mật độ dân cư cao, áp lực môi trường lớn và nhu cầu chuyển đổi xanh mạnh mẽ – các công nghệ sinh học môi trường có vai trò đáng kể trong xử lý chất thải, tái tạo tài nguyên và giảm phát thải carbon.Theo định hướng Chương trình KHCN TP.HCM giai đoạn 2026–2030, Thành phố ưu tiên phát triển các công nghệ phục vụ kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó, công nghệ sinh học được xem là nền tảng hỗ trợ phát triển các hệ thống xử lý môi trường có hiệu quả sinh học cao và phát thải thấp14.

– Các hướng nghiên cứu đang được triển khai gồm:

+Ứng dụng vi sinh vật và vi tảo trong xử lý nước thải và hấp thu carbon;
+ Công nghệ enzyme và vật liệu sinh học phân hủy sinh học;

+ Sản xuất nhiên liệu sinh học và sinh khối giá trị cao;

+Mô hình nông nghiệp carbon thấp và tận dụng phụ phẩm sinh học theo hướng tuần hoàn;

+ Ứng dụng cảm biến sinh học và AI trong giám sát môi trường và tối ưu hóa quy trình xử lý. Một số mô hình bước đầu đã được triển khai như hệ thống xử lý nước thải bằng vi tảo, mô hình lúa phát thải methane thấp (Low-CH4 Rice), công nghệ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và sản xuất vật liệu sinh học thân thiện môi trường. Đây là các tiền đề quan trọng để phát triển các giải pháp sinh học phục vụ mục tiêu Net Zero và phát triển đô thị bền vững tại TP.HCM.

  1. Sinh học số và AI – trụ cột mới của công nghiệp sinh học

Một xu hướng nổi bật của công nghiệp sinh học thế giới hiện nay là sự hội tụ giữa sinh học, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo15. Sinh học số (Digital Biology) đang làm thay đổi toàn bộ chuỗi nghiên cứu – phát triển trong y sinh và nông nghiệp, từ thiết kế thuốc bằng AI, mô phỏng protein, phân tích omics, tối ưu hóa lên men sinh học cho đến phát triển y học cá thể hóa.TP.HCM có lợi thế đặc biệt khi đồng thời là trung tâm công nghệ số và trung tâm khoa học sự sống lớn nhất cả nước. Sự kết nối giữa các nhóm nghiên cứu AI– bán dẫn – dữ liệu lớn với các nhóm CNSH và y sinh học sẽ tạo ra các nền tảng công nghệ mới mang tính đột phá. Trong dài hạn, sinh học số và AI có thể trở thành “hệ điều hành” của ngành CNSH hiện đại, giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, giảm chi phí phát triển sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ sinh học Việt Nam.

  1. Kiến tạo nền công nghiệp sinh học – Thách thức và Giải pháp
    a. Nhận diện thách thức

– Dù có tiềm năng lớn, quy mô thị trường CNSH Việt Nam hiện chỉ chiếm chưa đến 0,1% toàn cầu. Những rào cản lớn nhất nằm ở hành lang pháp lý, đặc biệt là quy trình cấp phép thử nghiệm lâm sàng và thương mại hóa sản phẩm y sinh còn thiếu linh hoạt, tạo ra độ trễ lớn.

– Một thách thức lớn hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và năng lực sản xuất quy mô công nghiệp. Việt Nam có nhiều nhóm nghiên cứu mạnh nhưng còn thiếu các trung tâm pilot-scale16, GMP sinh học, hệ thống kiểm định – đánh giá – thử nghiệm liên ngành và các quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ sâu (deep-tech biotech).

– Bên cạnh đó, cơ chế tài chính cho nghiên cứu công nghệ cao vẫn còn mang tính “quản lý hành chính”, chưa thực sự phù hợp với đặc thù của các nghiên cứu có độ rủi ro cao, thời gian phát triển dài và cần tính linh hoạt như CNSH và y sinh học tiên tiến.

– Một hạn chế hiện nay là sự liên kết giữa các cấu phần trong hệ sinh thái CNSH của Thành phố vẫn chưa đủ chặt chẽ. Các trường đại học, trung tâm nghiên cứu, khu công nghệ cao và doanh nghiệp vẫn còn hoạt động theo mô hình tương đối phân tán; thiếu cơ chế chia sẻ hạ tầng, dữ liệu và đồng đầu tư nghiên cứu dài hạn.
Trong khi đó, đặc thù của CNSH hiện đại đòi hỏi mô hình tích hợp đa ngành và đa trung tâm, nơi các nền tảng công nghệ sinh học, AI, vật liệu, dữ liệu và sản xuất phải được phát triển đồng thời trong cùng hệ sinh thái.

         b. Giải pháp chiến lược

Để khơi thông nguồn lực, bài tham luận đề xuất các nhóm giải pháp chính:
Thiết lập cơ chế Sandbox: TP.HCM cần tiên phong thí nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ mới (gen, tế bào gốc) để rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.

Cơ chế phân cấp thẩm định (Fast-track): Trao quyền cho ĐHQG-HCM và các viện đầu ngành chủ động thẩm định hồ sơ tiền lâm sàng, giảm tải áp lực hành chính.

Thúc đẩy mô hình “3 Nhà” và liên minh R&D: Nhà nước kiến tạo hạ tầng dùng chung và đặt hàng bài toán lớn; Nhà trường nghiên cứu – thẩm định; Doanh nghiệp đồng đầu tư từ giai đoạn R&D.

Hình thành “BioHub TP.HCM”: Xây dựng mô hình trung tâm liên kết nghiên cứu – thử nghiệm – sản xuất sinh học quy mô vùng, tích hợp phòng thí nghiệm dùng chung, pilot GMP, trung tâm dữ liệu sinh học, hệ thống thử nghiệm tiền lâm sàng và không gian tăng tốc doanh nghiệp CNSH. Đây có thể trở thành hạ tầng lõi cho hệ sinh thái CNSH khu vực phía Nam 17, 18.

Xây dựng mô hình “Liên minh Công nghiệp Sinh học TP.HCM”: kết nối ĐHQG-HCM, Trung tâm CNSH TP.HCM, SHTP Labs, bệnh viện, doanh nghiệp công nghệ cao và quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo nhằm hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu nền tảng – thử nghiệm – sản xuất – thương mại hóa – mở rộng thị trường./.

* Chú thích:

  1. Bộ Chính trị (2023), Nghị quyết số 36-NQ/TW về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ pháttriển bền vững đất nước trong tình hình mới.
  2. OECD (2009), The Bioeconomy to 2030: Designing a Policy Agenda, OECD Publishing.
    3. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
  3. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục công nghệ chiến lược vàDanh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
  4. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
  5. Ủy ban nhân dân TP.HCM (2026), Dự thảo Chương trình Nghiên cứu KHCN và nâng cao tiềm lực KH&CN trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2026-2030.
  6. Nghị quyết số 189-NQ/CP (16/11/2023): Chương trình hành động CNSH trong các lĩnh vực Y tế, nông nghiệp, môi trường, an ninh-quốc phòng, giáo dục-đào tạo, KHCN;
  7. Grand View Research (2025), Cell Therapy Market Size Report.
  8. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
  9. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
  10. World Economic Forum (2025) – Actionable Recommendations for a Commercial Bioeconomy;
  11. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
    13. World Economic Forum (2025) – Actionable Recommendations for a Commercial Bioeconomy;
    14. Đại học Quốc gia TP.HCM (2025), Báo cáo đề xuất Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045;
  12. World Economic Forum (2024) – Accelerating the Global Transition to a Bio-based Economy;
  13. World Economic Forum (2025) – Actionable Recommendations for a Commercial Bioeconomy;
  14. Ủy ban nhân dân TP.HCM (2026), Dự thảo Chương trình Nghiên cứu KHCN và nâng cao tiềm lực KH&CN trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2026-2030.
  15. Đại học Quốc gia TP.HCM (2025), Báo cáo đề xuất Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

 

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*