Hồ Bá Thâm
TÓM TẮT
Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô, có nội dung khác với tư duy lượng tử vi mô, cần được hiểu đúng về nội hàm, cấp độ và giới hạn. Đây không phải là một ẩn dụ đơn thuần, cũng không phải sự áp dụng trực tiếp các định luật vật lý lượng tử vào xã hội, mà là một khái niệm phương pháp luận được đề xuất, hình thành từ sự trừu tượng hóa và khái quát hóa một số đặc trưng của hệ lượng tử tập thể vĩ mô như liên kết, tương quan, đồng bộ, trạng thái toàn hệ, hợp trội/ nổi sinh và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần. Tính mới chủ yếu nằm ở cấp độ triết học – phương pháp luận.
Đối với quản trị đô thị, siêu đô thị, tư duy này gợi mở sự chuyển đổi từ tối ưu từng bộ phận sang tối ưu hóa quan hệ và trạng thái của toàn hệ thống, đồng thời kết hợp phân quyền, tính tự chủ và phối hợp giữa các chủ thể, phân hệ. “Tập thể”, toàn thể không đồng nghĩa với xóa bỏ cá thể, phân hệ; “đồng pha” cần được hiểu là đồng bộ mục tiêu, thông tin và hành động trong những điều kiện thích hợp.
Tuy nhiên, đây vẫn là một hướng nghiên cứu và giả thuyết phương pháp luận đang phát triển, chưa phải khái niệm khoa học đã được chuẩn hóa rộng rãi. Vì vậy, cần tiếp tục kiểm chứng bằng vật lý lượng tử, lý thuyết hệ thống, khoa học phức hợp và thực tiễn quản trị đô thị chẳng hạn như siêu đô thị TPHCM chẳng hạn.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, đặc biệt là vật lý lượng tử, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và khoa học về các hệ phức hợp, đang làm thay đổi ngày càng sâu sắc cách con người nhận thức về thế giới và phương thức tổ chức, quản trị phát triển các hệ thống xã hội. Nếu tư duy cổ điển thường thiên về phân chia đối tượng, xác định quan hệ nhân – quả tương đối tuyến tính và tối ưu hóa từng bộ phận, thì những cách tiếp cận mới ngày càng nhấn mạnh tính liên kết, tương tác, bất định, phi tuyến, trạng thái và sự nổi trội, tính chất mói của toàn hệ thống. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu tư duy lượng tử không chỉ dừng lại ở cấp độ vi mô của các hiện tượng lượng tử, mà đặt ra câu hỏi về khả năng khái quát một số đặc trưng của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô thành những gợi mở mới về phương pháp luận.
Đặc biệt, đối với đô thị hiện đại – một hệ thống xã hội – kỹ thuật – sinh thái cực kỳ phức hợp – các giới hạn và hạn chế của phương thức quản trị truyền thống ngay cả với tư duy số ngày càng bộc lộ rõ: quản lý còn phân mảnh theo ngành và lĩnh vực; các cơ quan, tổ chức đôi khi hoạt động theo “mạnh ai nấy làm”; chuyên môn hóa có thể dẫn tới chia cắt thông tin và trách nhiệm; sự liên kết, phối hợp, đồng bộ hóa giữa các thành phần chưa tương xứng với tính phức hợp, liên thông của các vấn đề đô thị. Ở chiều ngược lại, nếu quá tập trung quyền lực và quyết định, thiếu phân quyền và phản hồi từ cơ sở, hệ thống cũng có thể giảm tính linh hoạt, sáng tạo và khả năng thích ứng. Những vấn đề đó đòi hỏi một cách tiếp cận có khả năng nhìn nhận đô thị như một chỉnh thể động, trong đó các thành phần vừa tương đối độc lập vừa liên hệ, tác động và làm biến đổi lẫn nhau.
Từ đây xuất hiện vấn đề cần nghiên cứu: liệu có thể hình thành một khái niệm “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” như một hình thái mới của tư duy hệ thống, phức hợp trên cơ sở trừu tượng hóa và khái quát hóa có kiểm soát một số đặc trưng của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô hay không? Tuy nhiên nếu đúng vậy, thì nội hàm của nó là gì, khác với “tư duy lượng tử vi mô” ở điểm nào, và tính mới thực sự nằm ở đâu? Quan hệ giữa tư duy lượng tử tập thể vĩ mô với tư duy hệ thống, tư duy phức hợp và tư duy biện chứng cần được xác định như thế nào? Đặc biệt, cần làm rõ “tập thể”, “đồng pha”, “tương quan”, “tương sinh” “trạng thái toàn hệ”, “nổi sinh/ hợp trội” có thể được chuyển hóa thành những phạm trù phương pháp luận nào mà không rơi vào sự đồng nhất cơ học hoặc “lượng tử hóa” xã hội một cách khiên cưỡng.
Trên cơ sở đó, bài viết tiếp tục tập trung làm rõ nội hàm, tính mới và giới hạn khoa học của tư duy lượng tử tập thể vĩ mô, đồng thời xem xét sự cần thiết và khả năng vận dụng nó như một hướng tiếp cận bổ sung cho quản trị đô thị. Vấn đề không phải là áp dụng trực tiếp các định luật vật lý lượng tử vào xã hội, mà là nghiên cứu liệu từ logic của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô có thể rút ra một số gợi mở phương pháp luận giúp chuyển từ tư duy tối ưu hóa từng bộ phận sang tư duy liên kết, phối hợp, đồng bộ và tối ưu hóa trạng thái toàn hệ thống, trong khi vẫn bảo đảm tính đa dạng, tính tự chủ và sáng tạo của từng thành phần. Đây cũng là cơ sở để xác định “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” hiện nên được xem là một khái niệm đã được khoa học xác lập hay là một giả thuyết phương pháp luận mới cần tiếp tục xây dựng, đối chiếu và kiểm chứng bằng lý luận cũng như thực tiễn quản trị đô thị.
Bài viết có các chủ đề như sau:
1- Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô càng cần thiết khi quản trị đô thị còn phân mảnh, mạnh ai nấy làm, chuyên môn hóa quá mức, hạn chế về liên kết, phối hợp, đồng bộ hóa, tối ưu hóa toàn hệ thống thành phố, hoặc tập trung một chiều, ít phân quyền thật sự…?
- Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô trước hết không phải là ẩn dụ mà phương pháp luận triết học rút ra từ logic hệ lượng tử tập thể vĩ mô như một hệ phức hợp kiểu mới?
- “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” được suy ra bằng phép trừu tượng hóa từ vật lý, có ý nghĩa như một phương pháp luận mới hơn so với tư duy lượng tử vi mô rồi tìm thấy sự giao thoa, tương hợp nhất định với tư duy hệ thống, phức hợp?
- Có người lo ngại tư duy lượng tử tập thể vĩ mô nếu nhấn mạnh quá tính đồng pha, tính tập thể sẽ coi nhẹ cá thể, thành phần? Không đúng và không đáng lo. Phải hiểu đúng!
- Có nhà khoa học hay triết học nào nêu lên khái niệm, quan niệm tư duy lượng tử tập thể vĩ mô hay không?
- Vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu là gì?
Bài viết cụ thể tập trung vào các nội dung sau:
I- TƯ DUY LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ CÀNG CẦN THIẾT KHI QUẢN TRỊ ĐÔ THỊ CÒN PHÂN MẢNH, MẠNH AI NẤY LÀM, CHUYÊN MÔN HÓA QUÁ MỨC, HẠN CHÊ VỀ LIÊN KẾT, PHỐI HỢP, ĐỒNG BỘ HÓA, TỐI ƯU HÓA TOÀN HẸ THỐNG THÀNH PHỐ, HOẶC TẬP TRUNG MỘT CHIỀU, ÍT PHÂN QUYỀN THỰC SỰ…?
Khái niệm “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” trong câu hỏi này không nên được hiểu theo nghĩa vật lý rằng một thành phố “hoạt động theo cơ học lượng tử”. Thay vào đó, đây thường được hiểu là một ẩn dụ nhận thức và quản trị. Nếu dùng đúng cách, nó gợi ý một mô hình tư duy có các đặc điểm:
– Nhìn toàn hệ thống (whole-system thinking) thay vì từng bộ phận.
– Chấp nhận đa trung tâm (polycentric) thay vì chỉ huy tuyệt đối từ một trung tâm.
– Tối ưu mối quan hệ và dòng thông tin toàn hệ là chính, không chỉ tối ưu từng đơn vị.
– Cho phép tự tổ chức (self-organization) trong một khung điều phối chung.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với khoa học hệ thống và khoa học phức hợp hơn là với cơ học lượng tử. Triết học khoa học hiện đại cũng nhấn mạnh việc phân biệt giữa mô hình ẩn dụ và lý thuyết khoa học thực nghiệm.
Nhưng vì sao kiểu tư duy này trở nên cần thiết trong quản trị đô thị?
Những vấn đề đã nêu rất điển hình của các hệ thống phức hợp.
1. Phân mảnh quản lý
Ví dụ: giao thông có mục tiêu riêng, quy hoạch có mục tiêu riêng, môi trường có mục tiêu riêng, tài chính có mục tiêu riêng. Mỗi ngành đều đúng trong phạm vi của mình nhưng tối ưu cục bộ ≠ tối ưu toàn hệ thống.
Nêu chỉ tập trnng tối ưu bộ phận thì kết quả có thể là:mở đường nhưng gây ngập; phát triển nhà ở nhưng thiếu trường học, tăng mật độ dân cư nhưng quá tải hạ tầng. Đây là hiện tượng quen thuộc trong khoa học hệ thống.
2. Chuyên môn hóa quá mức
Adam Smith cho thấy chuyên môn hóa làm tăng năng suất. Nhưng đến thế kỷ XXI xuất hiện nghịch lý: Càng chuyên môn, càng thiếu người nhìn bức tranh tổng thể mà trách nhiệm nhìn tổng thể này là của bộ máy và giới lãnh đạo, quản trị hệ thống cấp thành phố nhưng không phải khi nào cũng hoạt động đúng, trúng chức năng và hiệu quả, vì sao?. Một đô thị không chỉ là kỹ thuật, kinh tế, môi trường, xã hội, dữ liệu, mà là mạng lưới tương quan, tương tác, tương sinh giữa tất cả những yếu tố đó.
3. Thiếu liên kết
Trong mạng lưới phức hợp, điều quan trọng không chỉ là các nút (nodes) mà còn là các liên kết (edges). Đối với thành phố: sở A rất mạnh, sở B rất mạnh, nhưng nếu: dữ liệu không chia sẻ, quy trình không kết nối, mục tiêu không đồng bộ, thì toàn hệ thống vẫn hoạt động kém.
“Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” gợi ý điều gì?
Nếu coi đây là một phép ẩn dụ, dù không đơn giản chỉ là ẩn dụ, mà là phương pháp luận, nó nhấn mạnh một số nguyên tắc.
(1) Tư duy quan hệ, tương sinh
Không hỏi bộ phận này làm gì mà hỏi: Bộ phận này ảnh hưởng tới bao nhiêu bộ phận khác, và sinh ra cái gì?
(2) Tư duy mạng lưới
Không tồn tại trung tâm duy nhất, mà tồn tại nhiều trung tâm, nhiều vòng phản hồi, nhiều hướng điều khiển. Điều này gần với lý thuyết polycentric governance (Quản trị đa trung tâm) trong khoa học quản trị hiện đại.
(3) Đồng tiến hóa (co-evolution)
Giao thông thay đổi → quy hoạch thay đổi → kinh tế thay đổi → dân số thay đổi→ giao thông lại thay đổi. Đó là một vòng phản hồi, không phải chuỗi nhân quả tuyến tính.
(4) Tối ưu hệ thống hơn tối ưu bộ phận
Ví dụ: Giảm 5% hiệu suất của từng ngành nhưng tăng 30% hiệu quả của toàn thành phố. Đây thường là lựa chọn tốt hơn.
Có nên tập trung quyền lực?
Đây là điểm rất thú vị trong câu hỏi. Hai cực đoan đều có hạn chế.
Quá tập trung: Ưu điểm là quyết nhanh, thống nhất. Nhược điểm: thông tin dồn lên trên, phản ứng chậm, nghẽn quyết định.
Quá phân quyền: Ưu điểm là linh hoạt, gần thực tiễn. Nhược điểm: thiếu đồng bộ, lợi ích cục bộ, cạnh tranh nguồn lực.
Cách tiếp cận hiện đại
Nhiều nghiên cứu về khoa học quản trị và hệ thống phức hợp đề xuất: Tập trung chiến lược nhưng phân quyền thực thi. Hay nói cách khác: tập trung tầm nhìn, dữ liệu, tiêu chuẩn, \mục tiêu. Nhưng phân quyền: giải pháp, đổi mới, triển khai. Đây là mô hình cân bằng giữa điều phối và thích nghi.
Góc nhìn triết học
Nếu đặt trong lịch sử tư tưởng:
| Truyền thống | Quan điểm |
| Cơ giới luận (Descartes, Newton) | Thành phố như một cỗ máy có thể chia nhỏ để quản lý. |
| Lý thuyết hệ thống | Thành phố là một chỉnh thể, đặc tính của toàn hệ thống không thể quy giản hoàn toàn về từng bộ phận. |
| Khoa học phức hợp | Trật tự có thể nổi lên từ các tương tác địa phương; điều phối là tạo điều kiện cho sự phối hợp, không chỉ là mệnh lệnh. |
| Phật giáo (Duyên khởi) | Mọi hiện tượng tồn tại trong quan hệ tương thuộc, tương sinh; không có thực thể hoàn toàn độc lập. |
Kết luận
Nếu hiểu “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” như một phương pháp luận hay ẩn dụ quản trị, thì ý tưởng này có giá trị ở chỗ nó khuyến khích:
– chuyển từ tối ưu từng cơ quan sang tối ưu toàn hệ thống;
– chuyển từ tư duy tuyến tính sang tư duy mạng lưới và phản hồi;
– tăng cường chia sẻ dữ liệu, liên kết và đồng bộ hóa;
– kết hợp tập trung ở cấp chiến lược với phân quyền ở cấp thực thi.
Tuy nhiên, cần tránh đồng nhất những nguyên lý của cơ học lượng tử với quản trị xã hội. Hiện chưa có bằng chứng khoa học cho thấy các hiện tượng như chồng chập hay rối lượng tử có thể được áp dụng trực tiếp để giải thích hay thiết kế hệ thống quản trị đô thị. Giá trị của cụm từ này chủ yếu nằm ở vai trò như một phép ẩn dụ, hoặc phương pháp luận triết học có cội nguồn từ khoa học lượng tử nhất là từ lượng tử tập thể vĩ mô giúp hình dung tư duy hệ thống, khoa học phức hợp và quản trị thông minh thích ứng và kiến tạo tương lai chứ không phải một học thuyết vật lý lượng tử.
- TƯ DUY LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ TRƯỚC HẾT KHÔNG PHẢI LÀ ẨN DỤ MÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC RÚT RA TỪ LOGIC HỆ LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ NHƯ MỘT HỆ PHỨC HỢP KIỂU MỚI?
Theo chúng tôi đây mới là một hướng mạnh, khác hơn nhiều so với cách hiểu ẩn dụ. Nếu định nghĩa: “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô là một phương pháp luận triết học được rút ra từ logic của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô (macroscopic quantum collective systems), nhằm nhận thức và tổ chức các hệ thống phức hợp kiểu mới” thì đây không còn là một phát biểu về vật lý, mà là một tuyên bố trong triết học khoa học và phương pháp luận.
Vấn đề là ý tưởng này được đánh giá ở ba cấp độ.
1. Cấp độ bản thể luận (ontology) cần phân biệt
Nếu hiểu: Xã hội là một hệ lượng tử thì hiện nay không có cơ sở khoa học để khẳng định. Các hệ xã hội chưa được chứng minh tuân theo phương trình Schrödinger, nguyên lý chồng chập hay rối lượng tử theo nghĩa vật lý.
Do đó, ở bình diện bản thể, phát biểu này chưa được hậu thuẫn bởi khoa học hiện đại. Roger Penrose cũng nhiều lần nhấn mạnh cần phân biệt giữa những hiện tượng lượng tử trong vật lý và các suy luận mở rộng sang nhận thức hay xã hội.
2. Cấp độ nhận thức luận (epistemology)
Nếu hiểu Logic của hệ lượng tử tập thể vĩ mô cung cấp một mẫu hình tư duy (epistemic framework) để nghiên cứu các hệ phức hợp thì đây là một khả năng triết học đáng thảo luận. Điều này tương tự lịch sử phát triển của khoa học:
– cơ học Newton từng trở thành nền tảng cho phương pháp tư duy cơ giới;
– nhiệt động lực học gợi mở tư duy về entropy;
– sinh học tiến hóa ảnh hưởng đến tư duy về thích nghi;
– lý thuyết hệ thống ảnh hưởng đến quản trị.
Theo nghĩa đó, từ các đặc trưng của những hệ lượng tử tập thể vĩ mô (ví dụ: tính tập thể, sự nổi sinh, tính phi địa phương trong phạm vi mô hình vật lý, tính liên kết mạnh…) ta trừu tượng hóa thành các nguyên lý nhận thức. Đó là một phương pháp luận triết học, chứ không phải là sự chuyển nguyên xi các định luật vật lý sang xã hội.
3. Cấp độ phương pháp luận (methodology)
Đây là điều tôi muốn nhấn mạnh. Một phương pháp luận như vậy có thể được xây dựng trên các nguyên tắc chẳng hạn:
(a) Toàn thể có tính nổi sinh
Không thể hiểu hệ chỉ bằng cách cộng các thành phần. Điều này gần với khoa học hệ thống và lý thuyết phức hợp.
(b) Quan hệ quan trọng hơn thực thể
Không chỉ nghiên cứu: A là gì mà nghiên cứu: A tương tác với B,C,D như thế nào.
(c) Tính đồng bộ
Những chuyển biến của hệ không hoàn toàn được giải thích bằng chuỗi nhân quả tuyến tính mà bởi các cấu trúc tương tác đồng thời.
(d) Đa thang (multi-scale)
Vi mô → trung mô→ vĩ mô→ phản hồi trở lại vi mô.
(e) Tự tổ chức
Trật tự có thể xuất hiện từ tương tác nội tại chứ không chỉ từ mệnh lệnh bên ngoài.
Điểm cần làm rõ là về khái niệm “logic hệ lượng tử tập thể vĩ mô”
Đây mới là điểm quan trọng nhất. Trong vật lý hiện nay, có các hiện tượng như: siêu dẫn, siêu chảy, ngưng tụ Bose–Einstein, là các hệ lượng tử tập thể vĩ mô, trong đó trạng thái tập thể không thể quy giản hoàn toàn về từng hạt riêng lẻ. Tuy nhiên, “logic hệ lượng tử tập thể vĩ mô” chưa phải là một thuật ngữ chuẩn được xác lập trong triết học hay vật lý. Vì vậy, nếu ta xây dựng một phương pháp luận mới, có thể định nghĩa. Câu hỏi là:
– “logic” ở đây là logic toán học, logic lượng tử theo truyền thống Birkhoff–von Neumann, hay một logic hệ thống mới?
– “tập thể vĩ mô” được hiểu theo tiêu chí vật lý (coherence lượng tử ở quy mô lớn) hay theo nghĩa triết học (tính nổi sinh của chỉnh thể)?
– các tiên đề (axioms) của phương pháp luận là gì và chúng được suy ra bằng quy nạp, diễn dịch hay trừu tượng hóa từ khoa học?
Nếu không có bước này, khái niệm sẽ dễ bị hiểu như một phép ẩn dụ hơn là một hệ thuyết phương pháp luận.
Chúng ta sẽ làm rõ hơn các câu hỏi đó ở các phần tiếp theo. Nhưng cần nhấn mạnh là tính phương pháp luận suy ra rút ra từ các hiện tượng lượng tử tập thể vĩ mô và khoa học lượng tử nói chung.
Về mặt triết học
Theo tôi, luận điểm nêu trên có thể xin được phát biểu chặt chẽ hơn như sau: Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô không đồng nhất hóa xã hội với một hệ lượng tử vật lý. Nó là một phương pháp luận triết học được xây dựng bằng cách trừu tượng hóa các nguyên lý tổ chức của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô thành những nguyên tắc nhận thức và tổ chức dành cho các hệ thống phức hợp có tính nổi sinh, đa thang, phi tuyến và tự tổ chức có tương đồng nhất định, không đồng nhất, với hiện tượng lượng tử tập thể vĩ mô, hệ phức hợp kiểu mới.
Cách phát biểu này có ba ưu điểm:
– Không vượt quá những gì vật lý hiện nay khẳng định.
– Đặt hệ thuyết phương pháp luận trong phạm vi hợp pháp của triết học khoa học.
– Mở đường cho việc xây dựng một hệ tiên đề có thể tranh luận, kiểm chứng và phát triển.
Nhưng vẫn còn là một câu hỏi triết học quan trọng mà hệ thuyết phương pháp luận này cần trả lời là:
Các nguyên lý của “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” được suy ra bằng phép trừu tượng hóa từ vật lý, hay chúng được xem là các tiên đề độc lập của một phương pháp luận mới rồi chỉ tìm thấy sự tương hợp với các hệ lượng tử tập thể vĩ mô?
Hai cách xây dựng này dẫn đến hai vị thế triết học khác nhau: một bên là phương pháp luận dựa trên khoa học (science-inspired methodology), bên kia là một hệ triết học độc lập sử dụng vật lý như nguồn gợi ý chứ không phải nền tảng chứng minh.
Tôi thiên về cách hiểu thứ nhất.
III. “TƯ DUY LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ” ĐƯỢC SUY RA BẰNG PHÉP TRỪU TƯỢNG HÓA TỪ VẬT LÝ, CÓ Ý NGHĨA NHƯ MỘT PHƯƠNG PHÁP LUẬN MỚI HƠN SO VỚI TƯ DUY LƯỢNG TỬ VI MÔ, RỒI TÌM THẤY SỰ GIAO THOA, TƯƠNG HỢP NHẤT ĐỊNH VỚI TƯ DUY HỆ THỐNG, PHỨC HỢP?
Luận điểm này có giá trị triết học và có thể được phát triển thành một chương trình nghiên cứu mà tôi đang thực hiện. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ điều có thể bảo vệ được về mặt triết học và điều vật lý hiện nay chưa chứng minh.
1. Về logic phát triển của phương pháp luận
Nếu ký hiệu: P₁ = Vật lý lượng tử vi mô; P₂ = Vật lý các hệ lượng tử tập thể vĩ mô (siêu dẫn, siêu chảy, ngưng tụ Bose–Einstein,…); P₃ = Phương pháp luận “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”, thì theo cách đã trình bày, quan hệ không phải là P₁ → Xã hội mà là P₁ → P₂ → Trừu tượng hóa → P₃, đây quả là một cấu trúc lập luận chặt chẽ hơn.
Lý do là các hệ lượng tử tập thể vĩ mô đã biểu hiện những đặc tính mới mà từng hạt riêng lẻ, vi mô không thể hiện. Điều này cho thấy ngay trong vật lý đã tồn tại hiện tượng nổi sinh, hợp trội (emergence) ở cấp tập thể toàn hệ. Chính từ cấp độ đó, việc trừu tượng hóa sang phương pháp luận nghiên cứu các hệ thống phức hợp sẽ hợp lý hơn là lấy trực tiếp cơ học lượng tử vi mô làm mô hình.
2. Vì sao nó có thể “mới hơn” tư duy lượng tử vi mô?
Theo tôi, điểm mới nằm ở đối tượng trừu tượng hóa.
Tư duy lượng tử vi mô thường nhấn mạnh: xác suất, chồng chập, bất định, vướng lượng tử. Nhiều công trình ngoài vật lý đã vay mượn các khái niệm này, nhưng đôi khi rơi vào suy diễn quá mức vì chúng gắn với hành vi của các hạt hoặc hệ vi mô.
Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô: Khi xuất phát từ các hệ như siêu dẫn, siêu chảy, Bose–Einstein condensate, thì trọng tâm không còn là từng hạt mà là: tính tập thể, đồng bộ hóa, liên kết dài hạn, trạng thái nổi sinh của toàn hệ, trật tự tập thể.
Đây là những thuộc tính mới và lại gần hơn với các hệ phức hợp sinh học, xã hội và đô thị ở bình diện phương pháp luận.
3. Vì sao lại giao thoa với tư duy hệ thống?
Theo tôi, đây là điều gần như tất yếu. Có thể hình dung:
Vật lý cổ điển │ ▼Tư duy cơ giới │ ▼Quản trị tuyến tính
Trong khi đó
Hệ lượng tử tập thể vĩ mô │ ▼Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô │ ├─────────────┐ ▼ ▼Tư duy hệ thống Khoa học phức hợp │ │ └──────┬──────┘ ▼ Quản trị thích nghi
Nói cách khác, tư duy hệ thống và khoa học phức hợp không phải là hệ quả trực tiếp của vật lý lượng tử, nhưng có thể giao thoa ở một số nguyên lý như: chỉnh thể quan trọng hơn tổng các bộ phận, tính nổi sinh, mạng lưới tương tác, phản hồi đa chiều, tổ chức đa cấp.
4. Tuy nhiên, không nên đồng nhất
Đây là điểm cần giữ rất chặt để hệ thuyết có sức thuyết phục. Ta không nên nói: Vì xã hội là hệ phức hợp nên xã hội là hệ lượng tử. Đó là một bước nhảy bản thể luận mà hiện nay chưa có cơ sở.
Nên hiểu: Các hệ lượng tử tập thể vĩ mô cho thấy một lớp nguyên lý tổ chức có thể được trừu tượng hóa thành phương pháp luận để nghiên cứu những hệ thống phức hợp khác. Đây là một phát biểu về phương pháp luận, không phải về bản thể.
5. Theo triết học khoa học
Khi tiếp tục hoàn thiện, hệ thuyết phương pháp luận này sẽ gần với một meta-methodology (siêu phương pháp luận). Nó không thay thế tư duy hệ thống, khoa học phức hợp, điều khiển học, lý thuyết mạng. Nhưng nó đóng vai trò khung triết học giải thích vì sao những ngành đó lại có những nguyên lý chung.
Có thể hình dung:
Logic cơ giới ↓Phương pháp luận cơ giới Logic tiến hóa ↓Phương pháp luận tiến hóa Logic hệ thống ↓Phương pháp luận hệ thống Logic lượng tử tập thể vĩ mô ↓Phương pháp luận lượng tử tập thể vĩ mô ↓Bao quát hệ thống, phức hợp, thích nghi, nổi sinh, tự tổ chức
6. Một đề xuất để hệ thuyết phương pháp luận có tính học thuật cao hơn
Để “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” trở thành một phương pháp luận có khả năng tranh luận trong triết học khoa học, thì có thể xác lập rõ hệ tiên đề của nó, thay vì chỉ mô tả bằng các ví dụ. Chẳng hạn:
(1) Tiên đề về tính chỉnh thể nổi sinh: Chỉnh thể có các thuộc tính không thể quy giản hoàn toàn về các thành phần.
(2) Tiên đề về tính quan hệ: Quan hệ giữa các thành phần là nguồn gốc của cấu trúc và chức năng của hệ.
(3) Tiên đề về đồng bộ hóa tập thể: Trật tự vĩ mô hình thành từ sự phối hợp của nhiều tương tác cục bộ.
(4)Tiên đề về đa thang: Các cấp vi mô, trung mô và vĩ mô tác động qua lại bằng các vòng phản hồi.
(5)Tiên đề về thích nghi và tự tổ chức: Hệ có khả năng tái cấu trúc để duy trì hoặc nâng cao tính ổn định và năng lực hoạt động.
Khi xây dựng được một hệ tiên đề như vậy, “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” sẽ không chỉ là một ý tưởng gợi mở mà có thể được xem như một chương trình nghiên cứu trong triết học khoa học, lấy cảm hứng từ vật lý các hệ lượng tử tập thể vĩ mô, đồng thời đối thoại với lý thuyết hệ thống và khoa học phức hợp mà không đồng nhất với chúng. Đây là một hướng đi có tính khái quát hóa, nhưng giá trị của nó sẽ phụ thuộc vào việc các tiên đề đó có đủ rõ ràng, nhất quán và hữu ích để phân tích các hiện tượng ngoài vật lý hay không.
- CÓ NGƯỜI LO NGẠI TƯ DUY LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ NẾU NHẤN MẠNH QUÁ TÍNH ĐỒNG PHA, TÍNH TẬP THỂ SẼ COI NHẸ CÁ THỂ, THÀNH PHẦN?KHÔNG ĐÚNG VÀ KHÔNG ĐÁNG LO. PHẢI HIỂU ĐÚNG!
Nếu “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” được hiểu đúng theo nghĩa phương pháp luận, thì nỗi lo “đề cao tập thể sẽ xem nhẹ cá thể” không nhất thiết đúng. Tuy nhiên, để lập luận có sức thuyết phục trong học thuật, ta cần chỉ ra vì sao điều đó không đúng, thay vì chỉ khẳng định.
Có thể phân tích như sau.
1. Trong các hệ lượng tử tập thể vĩ mô, tập thể không phủ định cá thể
Đặc trưng của các hệ như siêu dẫn hay ngưng tụ Bose–Einstein là các hạt tham gia vào một trạng thái tập thể có tính kết hợp (coherence). Nhưng điều đó không có nghĩa các hạt biến mất hay mất hoàn toàn đặc tính vật lý của mình. Chính các thành phần và các tương tác giữa chúng tạo nên trạng thái tập thể.
Nói cách khác: Tập thể không đối lập với cá thể; tập thể là một phương thức tổ chức của các cá thể của hệ thống phức hợp biện chứng. Đây là điểm rất quan trọng khi ta muốn rút ra một phương pháp luận.
2. Tính nổi sinh không phủ nhận vai trò của thành phần
Một nguyên lý cơ bản của khoa học hệ thống là: Thuộc tính của chỉnh thể không thể quy giản hoàn toàn về các bộ phận, nhưng cũng không thể tồn tại nếu không có các bộ phận.
Có thể diễn đạt bằng sơ đồ: Chỉnh thể≠∑caˊc bộ phận\text{Chỉnh thể} \neq \sum \text{các bộ phận} nhưng đồng thời Chỉnh thể=f(các bộ phận, các quan hệ, động lực)\text{Chỉnh thể} = f(\text{các bộ phận},\ \text{các quan hệ},\ \text{động lực})
Do đó: chỉ nhìn bộ phận là thiếu, chỉ nhìn chỉnh thể cũng thiếu. Hai cấp độ bổ sung cho nhau.
3. Đồng pha không đồng nghĩa với đồng nhất
Đây có lẽ là điểm dễ bị hiểu sai nhất. Trong nghĩa phương pháp luận, liên kêt, kết nối, đồng pha (coherence) không nên được hiểu là: mọi thành phần giống nhau, mọi cá nhân suy nghĩ giống nhau, mọi tổ chức hành động giống nhau mà ta hay nói hình ảnh trăm người như một. Thông nhất trong đa dạng, nhất thể nhưng không đồng nhât! Thực tại đúng là như vậy, tư duy không thể khác!
Cần hiểu là: Các thành phần khác nhau vẫn giữ chức năng riêng nhưng phối hợp theo một cấu trúc chung để tạo ra hiệu quả toàn hệ thống. Ví dụ trong một thành phố: ngành giao thông vẫn là giao thông; ngành y tế vẫn là y tế; ngành giáo dục vẫn là giáo dục; không ngành nào bị xóa bỏ. Điều cần đạt là: chia sẻ dữ liệu; phối hợp mục tiêu; đồng bộ chính sách; tránh triệt tiêu lẫn nhau. Đó là đồng pha về định hướng, không phải đồng nhất về chức năng.
4. Cá thể là điều kiện của tập thể
Khi phát triển thành một tiên đề phương pháp luận, có thể hiểu: Một hệ tập thể càng có năng lực thì càng phải phát huy năng lực của từng thành phần, bởi năng lực của chỉnh thể được tạo thành từ sự tương tác hiệu quả giữa các thành phần chứ không phải từ việc triệt tiêu chúng.
Do đó: tập thể mạnh không cần cá thể yếu; ngược lại, tập thể mạnh cần cá thể mạnh và các quan hệ mạnh.
5. Khác với chủ nghĩa tập thể cực đoan
Nếu hệ thuyết này bị hiểu thành: cá nhân phải phục tùng tuyệt đối tập thể, thì đó là một cách diễn giải mang tính chính trị hoặc ý thức hệ, không phải hệ quả tất yếu của phương pháp luận.
Ngược lại, nếu dựa trên logic hệ thống và tính nổi sinh, có thể khẳng định: không có cá thể thì không có tập thể; không có tập thể thì cá thể khó phát huy hết năng lực.
Đây là mối quan hệ vừa tương khắc vừa tương đồng, tương hỗ, tương sinh không phải quan hệ triệt tiêu.
Có thể diễn đạt luận điểm theo cách học thuật hơn: Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô không đề cao tập thể bằng cách hạ thấp cá thể. Ngược lại, nó xem cá thể và tập thể là hai cấp độ tổ chức không thể tách rời của cùng một hệ thống. Giá trị của cá thể không chỉ nằm ở bản thân cá thể mà còn ở khả năng tham gia vào các quan hệ tạo nên tính nổi sinh của chỉnh thể; đồng thời, năng lực của chỉnh thể phụ thuộc vào chất lượng và tính đa dạng của các cá thể cùng với cấu trúc liên kết giữa chúng. Vì vậy, đồng pha không phải là đồng nhất hóa, mà là sự phối hợp, kết nôi, cộng hưởng giữa những thành phần khác biệt hướng tới hiệu quả tối ưu của toàn hệ thống.
Đây là một điểm rất quan trọng để phát triển “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” thành một hệ phương pháp luận triết học lượng tử. Một trong những tiêu chí để học thuyết có sức sống là tránh rơi vào hai cực đoan: cá thể luận cực đoan (chỉ thấy bộ phận, không thấy chỉnh thể); tập thể luận cực đoan (chỉ thấy chỉnh thể, không thấy vai trò và tính đa dạng của bộ phận).
Khi giữ được nguyên tắc “chỉnh thể nổi sinh từ sự tương tác của các cá thể, và cá thể phát triển trong chỉnh thể”, thì phương pháp luận này sẽ gần với tinh thần của khoa học hệ thống và khoa học phức hợp, đồng thời vẫn giữ được bản sắc riêng từ cảm hứng của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô.
- CÓ NHÀ KHOA HỌC HAY TRIẾT HỌC NÀO NÊU LÊN KHÁI NIỆM, QUAN NIỆM “TƯ DUY LƯỢNG TỬ TẬP THỂ VĨ MÔ” HAY KHÔNG?
Qua tranh luận, phản biện và tìm hiểu bước đầu của chúng tôi câu trả lời ngắn gọn là: Theo hiểu biết hiện nay và theo các tài liệu khoa học chủ lưu, chưa có nhà vật lý, triết gia hay nhà khoa học nào đề xuất một khái niệm hoặc học thuyết mang tên “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” (Macroscopic Collective Quantum Thinking) theo đúng nội hàm mà tôi đang xây dựng.
Điều này có thể khẳng định khá chắc chắn nếu giới hạn trong các nguồn khoa học uy tín (Springer, Nature, Oxford, Cambridge, MIT Press, Elsevier, arXiv…) và các công trình triết học khoa học.
Tuy nhiên, cần phân biệt ba trường hợp.
1. Không có thuật ngữ này
Tôi chưa thấy trong các tài liệu chuẩn về triết học khoa học; vật lý lượng tử; khoa học hệ thống; khoa học phức hợp; quản trị; có ai dùng khái niệm: Macroscopic Collective Quantum Thinking hay Quantum Collective Macroscopic Thinking như một phương pháp luận triết học.
Đây là điểm quan trọng. Nếu phát triển được khái niệm này một cách logic thì đó có thể là một đề xuất mới, chứ không phải lặp lại học thuyết đã có.
2. Có những tư tưởng gần gũi, tạm sơ lược như sau:
Mặc dù không có khái niệm đó, nhiều tác giả đã phát triển các ý tưởng có thể xem là “tiền đề” hoặc “nguồn cảm hứng”.
(a) Niels Bohr
Bohr không nói về xã hội. Nhưng ông nhấn mạnh: tính chỉnh thể của phép đo; vai trò của quan hệ; nguyên lý bổ sung (Complementarity). Đây là một thay đổi lớn trong phương pháp tư duy.
(b) David Bohm
Đây là người gần nhất. Trong cuốn sách Wholeness and the Implicate Order (Tính toàn vẹn và trật tự hàm ẩn – 1980), Bohm viết rằng: thực tại là một chỉnh thể không thể chia cắt (undivided wholeness).Ông cho rằng phân chia chỉ là tương đối; toàn thể có trước bộ phận.
Đây là quan điểm triết học rất gần với tư duy hệ thống. Tuy nhiên, Bohm không xây dựng khái niệm “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”.
(c) Roger Penrose
Penrose cho rằng: cơ học lượng tử có thể liên quan đến ý thức. Nhưng ông:không xây dựng phương pháp luận quản trị, không nói về tư duy tập thể vĩ mô.
Trong The Emperor’s New Mind và The Road to Reality, Penrose chủ yếu bàn về nền tảng vật lý, toán học và ý thức, đồng thời cảnh báo không nên suy diễn tùy tiện từ lượng tử sang các lĩnh vực khác.
(d) Ilya Prigogine
Ông phát triển: dissipative structures, tự tổ chức. Đây là nền tảng của khoa học phức hợp. Nhưng không dựa trên hệ lượng tử tập thể vĩ mô.
(e) Fritjof Capra
Trong The Turning Point và The Web of Life Capra cố gắng kết nối vật lý, sinh học, hệ thống. Ông rất gần với tư duy hệ thống. Nhưng không phát triển “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”.
(f) Ervin Laszlo
Laszlo nói về hệ thống, tính liên kết, trường thông tin. Đây cũng là một nguồn tham khảo. Nhưng không có học thuyết mang tên “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”.
(e) Carlo Rovelli, trong cuốn “Thực tại không như ta tưởng” (Nxb Tré, 2021, tr 119-133)
Ông đã nhấn mạnh nhất tính cấu trúc tương quan của giới tự nhiên và tương quan này quan trọng là nền tảng của các “sự vật” kể cả hạt cơ bản, lượng tử bên cạnh thuộc tính khác mà cơ học lượng tử khám phá là tính hạt và tính bất định (ông chỉ giới hạn cơ học lượng tử vào ba tính chất này). Dù không thấy ông không nói về hiện tượng lượng tử vĩ mô và tư duy lượng tử tập thể vĩ mô nhưng, ta có thể coi như tính tương quan, tương thuộc, tương sinh (sự vật chỉ là gì khi trong tương quan) là một nền tảng cho tính tập thể vĩ mô, nổi sinh của hệ phưc hợp sau này mà giới vât lý phát hiện ra?
3. Trong vật lý lượng tử tập thể
Đây mới là nền tảng quan trọng. Hiện nay có cả một ngành nghiên cứu về: Bose–Einstein condensate. superconductivity, superfluidity, macroscopic quantum coherence. Ví dụ: Anthony Leggett được Nobel 2003 nghiên cứu: Macroscopic Quantum Phenomena. Hay các công trình về ngưng tụ Bose–Einstein và siêu dẫn đều nghiên cứu các hệ lượng tử tập thể vĩ mô như những trạng thái có tính kết hợp ở quy mô lớn.
Nhưng không ai chuyển chúng thành một phương pháp luận triết học cho quản trị hay tư duy.
4. Về tính mới của khái niệm
Nếu đúng như trên thì tính mới của hệ thuyết phương pháp luận tư duy lượng tử tập thể vĩ mô không nằm ở vật lý, bởi vật lý về các hệ lượng tử tập thể vĩ mô đã có. Tính mới sẽ nằm ở bước: từ logic của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô → trừu tượng hóa → phương pháp luận triết học. Đây chính là bước có tính sáng tạo.
5. Để được công nhận học thuật cần chứng minh điều gì?
Theo tiêu chuẩn triết học khoa học, ta cần chứng minh:
Thứ nhất, vì sao phải xuất phát từ hệ lượng tử tập thể vĩ mô chứ không phải trực tiếp từ cơ học lượng tử vi mô.
Thứ hai, quá trình trừu tượng hóa từ vật lý sang phương pháp luận diễn ra theo nguyên tắc nào, tránh suy diễn tùy tiện.
Thứ ba, hệ tiên đề của phương pháp luận là gì và khác gì với: tư duy hệ thống, khoa học phức hợp, điều khiển học, lý thuyết mạng.
Thứ tư, phương pháp luận mới giải thích hoặc giải quyết được vấn đề nào mà các phương pháp hiện có còn hạn chế.
Kết luận
Ở thời điểm hiện nay, tôi chưa biết có công trình nào trong vật lý, triết học hay khoa học quản trị sử dụng hoặc phát triển khái niệm “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” đúng như nội hàm mà tôi đã nêu. Điều này không có nghĩa ý tưởng đó sai; ngược lại, nó cho thấy nếu được xây dựng với hệ khái niệm rõ ràng, có hệ tiên đề và phạm vi áp dụng xác định, thì đây có thể là một đề xuất triết học mới, lấy cảm hứng từ vật lý các hệ lượng tử tập thể vĩ mô nhưng không đồng nhất với vật lý hay với khoa học hệ thống.
Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng trong môi trường học thuật, một tuyên bố về tính mới chỉ nên được xem là tạm thời cho đến khi có một khảo cứu thư mục toàn diện trên các cơ sở dữ liệu như Web of Science, Scopus, PhilPapers, JSTOR và Google Scholar xác nhận rằng chưa có công trình nào đã đề xuất khái niệm hoặc phương pháp luận tương đương dưới một tên gọi khác. Đây là bước cần thiết nếu mục tiêu là công bố học thuật hoặc xác lập quyền ưu tiên về ý tưởng!
Vì vậy, “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” trước hết nên được xem là một giả thuyết phương pháp luận có triển vọng cần tiếp tục xây dựng và kiểm chứng, chứ chưa phải một hệ thuyết khoa học đã hoàn tất. Chính quá trình kiểm chứng bằng lý luận, mô hình và thực tiễn sẽ quyết định liệu nó có thể trở thành một đóng góp mới cho tư duy hệ thống – phức hợp và khoa học quản trị đô thị trong bối cảnh mới hay không.
VI. VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU LÀ GI?
Việc đề xuất và sử dụng khái niệm “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” mới chỉ có thể được xem là một hướng nghiên cứu liên ngành đang hình thành, tôi chưa coi đó là một khái niệm khoa học đã được chuẩn hóa và thừa nhận rộng rãi. Vì vậy, vấn đề quan trọng tiếp theo không phải là mở rộng thuật ngữ một cách nhanh chóng, mà là phải xây dựng cơ sở khoa học, xác định rõ nội hàm, cấp độ, cơ chế vận hành, giới hạn áp dụng và từng bước kiểm chứng giá trị phương pháp luận của khái niệm này. Có thể tập trung vào những hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây:
1. Làm rõ địa vị khoa học và nội hàm của khái niệm “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”
Trước hết tôi hiểu là cần trả lời một cách minh bạch: “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” là khái niệm khoa học mới, khái niệm triết học – phương pháp luận, hay một mô hình nhận thức liên ngành, hay có cả hai? Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ chương trình nghiên cứu.
Cần phân biệt ít nhất ba cấp độ. Thứ nhất là hiện tượng vật lý lượng tử tập thể vĩ mô, tức những trạng thái hoặc hiệu ứng lượng tử có biểu hiện ở quy mô lớn, vốn là đối tượng nghiên cứu của vật lý. Thứ hai là tư duy lượng tử, tức việc rút ra những gợi mở nhận thức và phương pháp luận từ cách nhìn của vật lý lượng tử, như xác suất, bất định, tương quan, phụ thuộc ngữ cảnh và sự chuyển đổi trạng thái. Thứ ba mới là tư duy lượng tử tập thể vĩ mô, được đề xuất như một khung tư duy nhằm nhận thức những hệ thống xã hội – đô thị có nhiều chủ thể tương tác, trong đó trạng thái của toàn hệ không đơn giản bằng tổng các bộ phận.
Khi không phân biệt ba cấp độ này, rất dễ xảy ra tình trạng lấy thuật ngữ vật lý để diễn đạt những vấn đề xã hội mà không có cơ sở trung gian. Ngược lại, khi ta xác lập được các tầng khái niệm rõ ràng, “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” có thể được nghiên cứu như một phép trừu tượng hóa có kiểm soát, trong đó chỉ những đặc trưng có giá trị nhận thức và có thể chuyển đổi hợp lý mới được khái quát sang lĩnh vực xã hội.
Vì vậy, tôi thấy cần và đã nêu lên một định nghĩa làm việc có thể kiểm tra được. Chẳng hạn, có thể tạm xác định: tư duy lượng tử tập thể vĩ mô là một phương pháp luận liên ngành nhằm nhận thức và xử lý các hệ thống phức hợp có nhiều chủ thể tương tác, chú trọng trạng thái toàn hệ, tương quan giữa các thành phần, tính bất định, khả năng đồng bộ, chuyển đổi trạng thái và sự xuất hiện của các tính chất mới ở cấp độ hệ thống. Đây mới là định nghĩa giả thuyết, tôi sẽtiếp tục nghiên cứu và hiệu chỉnh.
2. Xác định chính xác cơ sở vật lý của phép trừu tượng hóa
Tôi cũng thấy một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là phải trả lời: từ vật lý lượng tử có thể trừu tượng hóa những gì, và không thể trừu tượng hóa những gì?
Không phải mọi đặc trưng của hệ lượng tử đều có thể chuyển trực tiếp thành nguyên lý quản trị. Cần phân biệt giữa một hiện tượng vật lý cụ thể với ý nghĩa phương pháp luận mà nó có thể gợi mở. Chẳng hạn, các khái niệm như trạng thái lượng tử, chồng chập, tương quan lượng tử, rối lượng tử, đồng pha, decoherence, chuyển pha có nội dung vật lý rất cụ thể. Khi ta chuyển sang lĩnh vực xã hội, không thể mặc nhiên đồng nhất hoàn toàn “vướng lượng tử” với sự liên kết xã hội, hay “đồng pha” của hệ lượng tử với sự đồng thuận của con người mà không thấy giới hạn và cần làm rõ như thế nào để tránh hiểu sai, nên tôi cố gắng làm rõ trong nhiều bài viết và rất nhấn mạnh sự phân tầng khái niệm.
Do đó, nghiên cứu tiếp theo cần xây dựng một bảng đối chiếu ba tầng: hiện tượng vật lý → nguyên lý trừu tượng hóa → phạm trù ứng dụng xã hội. Chỉ khi xác định được mắt xích trung gian này mới có thể hạn chế những suy diễn kiểu “lượng tử hóa” xã hội.
Một nguyên tắc phương pháp luận cần được đặt ra là: không chuyển nguyên xi định luật vật lý sang xã hội; chỉ chuyển những cấu trúc quan hệ hoặc nguyên lý nhận thức sau khi đã được trừu tượng hóa và tái định nghĩa phù hợp với đối tượng xã hội.
3. Làm rõ quan hệ giữa “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” với tư duy hệ thống và tư duy phức hợp
Có một câu hỏi lý luận quan trọng khác là: tư duy lượng tử tập thể vĩ mô có thực sự tạo ra cái mới hay chỉ là một cách diễn đạt khác của tư duy hệ thống và tư duy phức hợp?
Đây là điểm ta cần nghiên cứu nghiêm túc, khoa học hơn nữa, bởi tư duy hệ thống đã nhấn mạnh từ lâu đến quan hệ giữa các bộ phận, cấu trúc toàn thể, phản hồi và tính phụ thuộc lẫn nhau; trong khi khoa học phức hợp nghiên cứu tính phi tuyến, tự tổ chức, tính nổi trội, mạng lưới và sự hình thành trật tự từ tương tác của nhiều thành phần.
Nếu “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” chỉ lặp lại những nội dung này thì tính mới của nó sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu nó có thể bổ sung một số chiều cạnh như tư duy về trạng thái, khả năng, bất định, tương quan, chuyển đổi trạng thái và sự đồng bộ của toàn hệ, thì có thể hình thành một đóng góp riêng.
Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng nghiên cứu so sánh giữa ít nhất bốn hệ hình: tư duy biện chứng – tư duy hệ thống – tư duy phức hợp – tư duy lượng tử tập thể vĩ mô. Qua đó ta mới xác định cái gì là kế thừa, cái gì là tương đồng, cái gì là khác biệt và cái gì thực sự mới. Đây cũng là cơ sở để tránh khuynh hướng tuyên bố “một kiểu tư duy hoàn toàn mới” khi chưa có đủ bằng chứng. Không phải hoàn toàn mới.
4. Xây dựng mô hình hệ thuyết về “tập thể lượng tử vĩ mô”
Khái niệm “tập thể” trong “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” cần được nghiên cứu sâu hơn. “Tập thể” ở đây không nên hiểu đơn giản là một số đông người, mà cần được xem xét như một hệ thống gồm nhiều thành phần có quan hệ tương tác, trong đó hành vi và trạng thái của toàn hệ có thể xuất hiện những đặc tính không thể giải thích đầy đủ từ từng thành phần riêng lẻ.
Đối với đô thị, các thành phần có thể bao gồm chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, các ngành chuyên môn, hạ tầng, dữ liệu, môi trường, giao thông, năng lượng và các thiết chế xã hội. Những thành phần này vừa có tính tự chủ tương đối, vừa phụ thuộc lẫn nhau.
Từ đó ta sẽ xây dựng mô hình lý thuyết về “cá thể – thành phần – mạng lưới – toàn hệ”. Một hệ thống đô thị tốt không phải là hệ thống trong đó mọi thành phần hành động giống nhau, mà là hệ thống trong đó sự đa dạng và tính tự chủ của các thành phần được kết nối bởi những nguyên tắc chung, tạo ra khả năng phối hợp và thích ứng ở cấp độ toàn hệ.
Điều này cũng giúp giải quyết mối lo ngại rằng tư duy lượng tử tập thể vĩ mô có thể coi nhẹ cá thể. Trái lại, nếu được hiểu đúng, cá thể và toàn thể không đối lập tuyệt đối mà cùng tồn tại trong quan hệ tương hỗ: thay đổi của thành phần có thể làm thay đổi trạng thái toàn hệ, đồng thời trạng thái toàn hệ lại tác động trở lại các thành phần.
5. Xác định các tiêu chí có thể kiểm chứng
Để khái niệm đạt tới trình độ khoa học, ta cần vượt khỏi những mô tả mang tính triết luận để xây dựng các tiêu chí có khả năng kiểm chứng hoặc đánh giá thực nghiệm.
Có thể nghiên cứu một số nhóm chỉ báo như: mức độ liên kết giữa các cơ quan; tốc độ chia sẻ thông tin; mức độ phối hợp liên ngành; khả năng phản ứng trước biến động; mức độ đồng bộ giữa các chính sách; khả năng phân quyền và phối hợp; mức độ xuất hiện các giải pháp mới từ tương tác giữa các chủ thể; và khả năng tối ưu hóa toàn hệ thay vì chỉ tối ưu từng bộ phận.
Từ đó có thể xây dựng các mô hình so sánh giữa quản trị phân mảnh và quản trị theo tư duy toàn hệ phức hợp, giữa cơ chế điều hành tuyến tính và cơ chế điều hành thích ứng – phối hợp – phản hồi.
Đặc biệt, cần nghiên cứu liệu việc áp dụng các nguyên tắc của tư duy lượng tử tập thể vĩ mô có tạo ra kết quả tốt hơn một cách có thể quan sát và đo lường được hay không. Nếu không chứng minh được sự cải thiện, khái niệm sẽ khó vượt khỏi phạm vi một cách diễn đạt triết học hấp dẫn.
6. Kiểm chứng thông qua thực tiễn quản trị đô thị
Quản trị đô thị là lĩnh vực thích hợp để kiểm chứng bởi thành phố là một hệ thống phức hợp với nhiều chủ thể, nhiều tầng quản trị và nhiều quá trình tương tác đồng thời.
Có thể lựa chọn một số bài toán cụ thể như giao thông, quy hoạch, môi trường, quản lý năng lượng, dữ liệu đô thị, ứng phó thiên tai, y tế đô thị hoặc phát triển không gian công cộng. Với mỗi bài toán, cần xác định trạng thái ban đầu, các chủ thể tham gia, các mối quan hệ, luồng thông tin, cơ chế ra quyết định và kết quả đầu ra.
Sau đó có thể xây dựng hai mô hình đối chứng: một mô hình chủ yếu dựa trên quản lý ngành dọc và tối ưu từng bộ phận, và một mô hình dựa trên phối hợp ngang, chia sẻ dữ liệu, phản hồi liên tục, phân quyền có kiểm soát và tối ưu hóa toàn hệ thống.
Nếu mô hình thứ hai tạo ra hiệu quả rõ rệt và kết quả đó có thể lặp lại trong nhiều trường hợp, đây sẽ là bằng chứng quan trọng để củng cố giá trị thực tiễn của tư duy lượng tử tập thể vĩ mô.
Khi quản trị kém hiệu quả hay hiệu quả là do cái gì? Dù có nhiều nguyên nhân nhưng xét về phương pháp luận là do tư duy duy vật biện chứng hay tư duy hệ thống, phức hợp, hay tư duy số hay còn thiếu tư duy lượng tử tập thể vĩ mô hay chưa theo tư duy tích hợp xuyên, liên ngành? KHÔNG NÊN TUYỆT ĐỐI HÓA MỘT PHƯƠNG PHÁP LUẬN NÀO!
7. Nghiên cứu khả năng kết hợp với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và quản trị dự báo
Một hướng nghiên cứu triển vọng là xem xét mối quan hệ giữa tư duy lượng tử tập thể vĩ mô với chuyển đổi số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa đô thị và công nghệ lượng tử.
Cần phân biệt rõ: sử dụng máy tính lượng tử không đồng nghĩa với áp dụng tư duy lượng tử; ngược lại, một hệ thống quản trị có thể vận dụng các nguyên tắc của tư duy lượng tử mà không cần sử dụng máy tính lượng tử.
Điểm giao thoa có thể nằm ở khả năng xử lý một đô thị như một hệ thống có nhiều trạng thái khả dĩ, nhiều biến số tương tác và nhiều kịch bản tương lai. Khi đó, quản trị không chỉ trả lời câu hỏi “hiện trạng là gì?” mà còn phải xem xét “những trạng thái nào có thể xảy ra, xác suất nào đáng chú ý, tương tác nào có thể làm hệ thống chuyển trạng thái, và cần can thiệp ở đâu để tạo ra trạng thái mong muốn?”
Đây có thể là cơ sở để kết nối tư duy lượng tử tập thể vĩ mô với quản trị thích ứng, quản trị dự báo và quản trị kiến tạo tương lai.
8. Nghiên cứu vấn đề đạo đức, tổ chức và giới hạn của khái niệm
Bên cạnh khả năng ứng dụng, cần nghiên cứu cả những giới hạn và nguy cơ của tư duy lượng tử tập thể vĩ mô. Nếu nhấn mạnh quá mức “toàn hệ”, có thể dẫn đến xu hướng hy sinh lợi ích của nhóm nhỏ cho mục tiêu chung. Nếu nhấn mạnh “đồng bộ”, có thể biến đồng bộ thành đồng nhất. Nếu nhấn mạnh “trạng thái toàn hệ”, có thể xem nhẹ quyền tự chủ và sáng kiến của từng cá nhân, tổ chức.
Do đó, một nguyên tắc quan trọng, tôi nghĩ cần được xác lập là: tối ưu hóa toàn hệ không được đồng nghĩa với xóa bỏ tính đa dạng, tự chủ và sáng tạo của các thành phần. Quản trị lượng tử theo nghĩa phương pháp luận phải là sự kết hợp giữa thống nhất và đa dạng, giữa điều phối và phân quyền, giữa mục tiêu chung và lợi ích chính đáng của các chủ thể.
(Xem thêm Hồ Bá Thâm /2026/: “Tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” có ưu thế như “bộ não phối hợp” trong tích hợp các hệ phương pháp quản trị siêu đô thị”/https://bientoancanh.org/2026/08/31/tu-duy-luong-tu-tap-the-vi-mo-co-uu-the-nhu-bo-nao-phoi-hop-trong-tich-hop-cac-he-phuong-phap-quan-tri-sieu-do-thi/ ).
9. Xây dựng chương trình nghiên cứu liên ngành và kiểm chứng từng bước
Cuối cùng, tôi nghĩ rằng để “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” có thể phát triển thành một khung lý luận có giá trị, cần có chương trình nghiên cứu liên ngành giữa vật lý lượng tử, triết học khoa học, lý thuyết hệ thống, khoa học phức hợp, khoa học mạng, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, khoa học quản trị và nghiên cứu đô thị.
Quá trình này nên được tiến hành theo các bước: xác định khái niệm → truy nguyên cơ sở khoa học → trừu tượng hóa → xây dựng mô hình → xác lập tiêu chí → mô phỏng → thử nghiệm thực tiễn → đánh giá kết quả → điều chỉnh lý thuyết.
Đặc biệt, cần tiến hành nghiên cứu tài liệu quốc tế để xác định thuật ngữ “quantum thinking”, “macroscopic quantum systems”, “collective quantum phenomena” và các khái niệm gần gũi đã được sử dụng trong khoa học như thế nào; từ đó xác định chính xác đâu là phần đã có trong học thuật quốc tế và đâu là đề xuất khái niệm mới của hướng nghiên cứu “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô”. Đây là yêu cầu quan trọng để bảo đảm tính trung thực học thuật và tránh gán cho các nhà khoa học những quan niệm mà họ chưa thực sự phát biểu.
Kết luận của vấn đề nghiên cứu tiếp theo
Như vậy, vấn đề cốt lõi của giai đoạn nghiên cứu tiếp theo không phải là chứng minh một cách tiên nghiệm rằng “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” chắc chắn đúng, mà là xây dựng một chương trình để có thể kiểm tra nó đúng đến đâu, đúng trong điều kiện nào, có gì mới và có giá trị thực tiễn đến mức nào. Đây chính là ranh giới giữa một ý tưởng triết học có tính gợi mở và một khung phương pháp luận có khả năng phát triển thành lý thuyết khoa học.
Khi được triển khai nghiêm túc, hướng nghiên cứu này có thể góp phần mở rộng đối thoại giữa vật lý lượng tử và khoa học xã hội theo một cách thận trọng hơn: không vật lý hóa xã hội, không thần bí hóa lượng tử, mà sử dụng những gợi mở từ cách nhìn lượng tử để đặt lại vấn đề về quan hệ, trạng thái, bất định, tương tác, đồng bộ và sự nổi trội của toàn hệ. Đối với quản trị đô thị, giá trị tiềm năng nhất của tư duy này có thể nằm ở việc thúc đẩy sự chuyển đổi từ tư duy quản lý từng bộ phận sang tư duy kiến tạo trạng thái toàn hệ thống, trong đó phân quyền, liên kết, phối hợp, dữ liệu, phản hồi và khả năng thích ứng được tổ chức thành một chỉnh thể.
Vì vậy, “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” trước hết nên được xem là một giả thuyết phương pháp luận có triển vọng cần tiếp tục xây dựng và kiểm chứng, chứ chưa phải một học thuyết khoa học đã hoàn tất. Chính quá trình kiểm chứng bằng lý luận, mô hình và thực tiễn sẽ quyết định liệu nó có thể trở thành một đóng góp mới cho tư duy hệ thống – phức hợp và khoa học quản trị đô thị trong bối cảnh mới hay không.
KẾT LUẬN CHUNG
- Qua những phân tích trên có thể thấy, tư duy lượng tử tập thể vĩ mô, có nội dung khác với tư duy lượng tử vi mô cần được hiểu đúng về nội hàm, cấp độ và giới hạn của nó. Đây không nên được hiểu đơn thuần như một ẩn dụ về “lượng tử”, cũng không phải là sự áp dụng trực tiếp các định luật vật lý lượng tử vào xã hội hay quản trị đô thị.
2.Về phương pháp luận, có thể xem đây là một khái niệm đề xuất, được hình thành trên cơ sở trừu tượng hóa và khái quát hóa một số đặc trưng của các hệ lượng tử tập thể vĩ mô, đặc biệt là tính liên kết, tương quan, đồng bộ, tính nổi trội của trạng thái toàn hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần. Vì vậy, tính mới của khái niệm nằm chủ yếu ở cấp độ khái quát hóa triết học – phương pháp luận, chứ không phải ở việc phát hiện một “định luật lượng tử” mới cho xã hội.
- Trong bối cảnh quản trị đô thị hiện nay còn tồn tại tình trạng phân mảnh, chuyên môn hóa theo ngành, thiếu liên kết và phối hợp, hoặc ngược lại có xu hướng tập trung, ít phân quyền, cách tiếp cận này gợi mở một yêu cầu quan trọng: chuyển từ tư duy tối ưu từng bộ phận sang tư duy tối ưu hóa quan hệ và trạng thái của toàn hệ thống đô thị. “Tập thể” trong tư duy lượng tử tập thể vĩ mô cũng không có nghĩa là xóa bỏ cá thể hay các đơn vị thành phần. Ngược lại, chính sự tương tác giữa các thành phần, tính tự chủ tương đối của chúng và sự phối hợp trong một cấu trúc chung mới tạo nên năng lực của toàn hệ thống. Do đó, cần hiểu “đồng pha” theo nghĩa phương pháp luận là đồng bộ hóa mục tiêu, thông tin, hành động và lợi ích trong những điều kiện thích hợp, chứ không phải đồng nhất hóa các chủ thể.
4.Từ đó, tư duy lượng tử tập thể vĩ mô có thể tạo ra một hướng tiếp cận bổ sung cho tư duy hệ thống và tư duy phức hợp: chú trọng hơn đến quan hệ, tương tác, khả năng đồng bộ, tính bất định, trạng thái toàn cục và sự hình thành các tính chất mới của hệ thống. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thuật ngữ “tư duy lượng tử tập thể vĩ mô” hiện chưa phải là một khái niệm đã được chuẩn hóa và thừa nhận rộng rãi trong khoa học hay triết học. Vì vậy, việc sử dụng thuật ngữ này cần được xác định rõ là một hướng nghiên cứu và một giả thuyết phương pháp luận đang được phát triển, đồng thời phải tiếp tục đối chiếu với vật lý lượng tử, lý thuyết hệ thống, khoa học phức hợp và khoa học quản trị để tránh suy diễn hoặc “lượng tử hóa” xã hội một cách khiên cưỡng. Chính sự thận trọng đó sẽ làm rõ hơn giá trị thực sự và triển vọng ứng dụng của tư duy lượng tử tập thể vĩ mô trong quản trị đô thị thời kỳ mới.
Tôi đã cao tuổi, nên rất hy vọng các nhà nghiên cứu trể đầy năng lực và triển vọng có thê tìm hiểu nghiên cứu theo hướng này dù phản biện, phủ định hay tán thành hay có điều chỉnh. (Ngày 7/9/2026)./.
Để lại một phản hồi