Hồ Bá Thâm
Từ cách tiếp cận triết học, bài viết khẳng định khoảng trống hiện nay không nằm ở bản thân khoa học lượng tử mà ở việc thiếu một phương pháp luận tường minh định hướng quá trình chuyển hóa từ tri thức khoa học đến công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế, hệ sinh thái và văn minh.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn đóng góp lý luận, bao gồm:
Thứ nhất, đề xuất khái niệm “Tư duy thực tiễn lượng tử” như một phương thức tư duy triết học định hướng ứng dụng, kế thừa các thành tựu của khoa học lượng tử, khoa học hệ thống, khoa học quản trị và đổi mới sáng tạo nhằm chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động và phát triển.
Thứ hai, đề xuất Chuỗi chuyển hóa tri thức lượng tử (Quantum Innovation Chain), mô tả logic phát triển từ quan sát – mô hình – lý thuyết – thực nghiệm – công nghệ – sản phẩm – thị trường – hệ sinh thái – thể chế – văn hóa – văn minh, nhưng THEO LOGIC PHI CỔ ĐIỂN, qua đó làm rõ cơ chế chuyển hóa tri thức khoa học thành giá trị kinh tế – xã hội.
Thứ ba, xây dựng mô hình hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam với các tầng liên kết từ nền tảng tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế, thị trường, xã hội đến phát triển quốc gia và văn minh AI – lượng tử, trong đó tư duy thực tiễn lượng tử giữ vai trò phương pháp luận liên kết và điều phối.
Thứ tư, đề xuất khung định hướng chính sách và lộ trình phát triển đến năm 2050 nhằm kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử mang bản sắc Việt Nam, gắn với phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bài viết bước đầu góp phần mở rộng triết học lượng tử từ bình diện bản thể luận và nhận thức luận sang bình diện triết học thực tiễn lượng tử, đồng thời gợi mở một hướng tiếp cận liên ngành đối với phát triển khoa học, công nghệ và quản trị trong kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử và các công nghệ nền tảng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với mô hình phát triển kinh tế – xã hội và quản trị quốc gia, vấn đề đặt ra không chỉ là nghiên cứu hay làm chủ công nghệ lượng tử, mà quan trọng hơn là chuyển hóa các thành tựu khoa học thành năng lực phát triển quốc gia.
I. KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ Ở VIỆT NAM: BỐI CẢNH, THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN
Thế giới đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, bán dẫn, dữ liệu lớn và các hệ thống thông minh được xem là những công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và có khả năng định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia, an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế và quản trị xã hội trong nhiều thập niên tới. Đặc biệt, công nghệ lượng tử đang chuyển dần từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản sang phát triển các nền tảng ứng dụng như máy tính lượng tử, truyền thông lượng tử, cảm biến lượng tử và mật mã lượng tử, mở ra những cơ hội phát triển đột phá cho các quốc gia biết đầu tư đúng hướng và xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phù hợp.
Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia đã ban hành chiến lược quốc gia về công nghệ lượng tử, đầu tư mạnh cho nghiên cứu, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới. Cuộc cạnh tranh không còn chỉ diễn ra ở trình độ nghiên cứu khoa học, mà ngày càng chuyển sang cạnh tranh về năng lực chuyển hóa tri thức thành công nghệ, sản phẩm, thị trường, thể chế và sức mạnh phát triển quốc gia.
Đối với Việt Nam, vấn đề đặt ra không chỉ là trả lời câu hỏi: Làm thế nào để nghiên cứu và phát triển công nghệ lượng tử?, mà quan trọng hơn là: Làm thế nào để kiến tạo một hệ thống lộ trình hệ sinh thái công nghệ lượng tử thích nghi, đồng bộ hóa và tiến hóa có khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và động lực phát triển quốc gia? Và phải “đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng, đi đúng vào những khâu tạo năng lượng, năng lực phù hợp với điều kiện của Việt Nam”. Đây là câu hỏi mang tính chiến lược, bởi nếu chỉ tập trung vào nghiên cứu khoa học hoặc đầu tư thiết bị mà thiếu sự kết nối giữa nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, chính sách, thị trường và quản trị thì rất khó hình thành một hệ sinh thái công nghệ lượng tử hoàn chỉnh.
Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã có những tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển công nghệ lượng tử. Đảng và Nhà nước đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực then chốt của phát triển đất nước; nhiều trường đại học, viện nghiên cứu đã bước đầu hình thành các nhóm nghiên cứu về vật lý lượng tử, quang lượng tử, khoa học máy tính và AI; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia từng bước phát triển; hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ngày càng mở rộng. Đồng thời, Việt Nam có lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, khả năng tiếp thu nhanh các công nghệ mới và cơ hội tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu trong bối cảnh nhiều công nghệ lượng tử vẫn đang ở giai đoạn hình thành.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đó vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức. Nghiên cứu về công nghệ lượng tử còn phân tán, thiếu sự liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; cơ chế đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng chưa thật sự đồng bộ; hệ thống tiêu chuẩn, chính sách và cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ còn đang trong quá trình hoàn thiện. Đặc biệt, Việt Nam đang mới ở thời điểm khởi đầu, vẫn chưa hình thành một hệ sinh thái công nghệ lượng tử theo đúng nghĩa, trong đó các thành tố như nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, tài chính, chính sách, quản trị, thị trường và hợp tác quốc tế được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất.” “Hiện trạng, điểm nghẽn và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong phát triển công nghệ lượng tử”, TS Nguyễn Quốc Hưng, Viện trưởng Viện Công nghệ Lượng tử, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, Việt Nam đang ở giai đoạn ban đầu của phát triển công nghệ lượng tử. Việt Nam có một số cơ sở nghiên cứu chuyên trách bắt đầu hình thành, song năng lực thực tế và cơ chế vận hành còn chưa sẵn sàng. Do đó phải khắc phuc, hóa giải “các điểm nghẽn chủ yếu như thiếu chính sách cấp quốc gia, thiếu kiến trúc điều phối liên ngành, hạ tầng chuyên dụng còn hạn chế, nhân lực chuyên sâu thiếu hụt, doanh nghiệp tham gia chưa nhiều, cơ chế tài chính, mua sắm và đánh giá chưa phù hợp với công nghệ có rủi ro cao, chu kỳ dài. Trên cơ sở đó,…, Việt Nam cần lựa chọn chiến lược có trọng tâm, ưu tiên an toàn thông tin, mật mã hậu lượng tử, cảm biến và đào tạo nhân lực; đồng thời xây dựng chương trình quốc gia, cơ quan điều phối, cơ chế hợp tác quốc tế có chọn lọc và lộ trình phát triển linh hoạt (Xem Hội thảo “Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới – Xu hướng quốc tế, cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam” ngày 23/6/2026).
Những hạn chế trên cho thấy, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là thiếu công nghệ hay thiếu nguồn lực, mà còn là thiếu một khung tư duy tích hợp đủ khả năng kết nối các thành tố của hệ sinh thái phát triển. Nếu tiếp cận công nghệ lượng tử chỉ như một lĩnh vực của vật lý hoặc kỹ thuật thì khó giải quyết được các bài toán về quản trị, thể chế, nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường. Ngược lại, nếu chỉ nhấn mạnh khía cạnh quản lý mà thiếu nền tảng khoa học và công nghệ thì cũng khó tạo ra năng lực cạnh tranh thực chất.
Vì vậy, việc kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử ở Việt Nam đòi hỏi một cách tiếp cận liên ngành, hệ thống và định hướng ứng dụng, trong đó khoa học, công nghệ, quản trị, giáo dục, doanh nghiệp, chính sách và văn hóa đổi mới sáng tạo được xem là những thành tố có quan hệ hữu cơ. Nói cách khác, cần chuyển từ tư duy phát triển theo từng lĩnh vực riêng lẻ sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái, trong đó trọng tâm không chỉ là tạo ra tri thức mới mà còn là tổ chức quá trình chuyển hóa tri thức thành công nghệ, công nghệ thành năng lực sản xuất, năng lực quản trị và giá trị phát triển.
Từ góc độ đó, bài viết đề xuất tiếp cận vấn đề trên bằng Tư duy thực tiễn lượng tử như một khung triết học định hướng ứng dụng. Cách tiếp cận này không nhằm vận dụng trực tiếp các quy luật của cơ học lượng tử vào đời sống xã hội, mà hướng tới nghiên cứu các nguyên lý và phương thức tổ chức quá trình chuyển hóa tri thức khoa học thành giải pháp công nghệ, mô hình quản trị, thể chế, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là cách tiếp cận lấy thực tiễn phát triển làm điểm xuất phát, lấy chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển làm mục tiêu, lấy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo làm không gian vận hành và lấy phát triển con người, năng lực quốc gia và phát triển bền vững làm đích đến.
Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu và kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa phát triển một ngành công nghệ mới mà còn góp phần xây dựng nền tảng khoa học, công nghệ và quản trị cho quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử, tạo tiền đề để Việt Nam chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thế kỷ XXI.
II. PHÁC THẢO CẤU TRÚC MÔ HÌNH HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ VÀ CÁCH TIẾP CẬN KIẾN TẠO, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, ỨNG DỤNG
Từ góc nhìn Tư duy thực tiễn lượng tử, công nghệ lượng tử không nên được nhìn nhận như một lĩnh vực khoa học hay một ngành công nghệ đơn lẻ, mà cần được tiếp cận như một hệ sinh thái phát triển bao gồm nhiều thành tố có quan hệ hữu cơ và tác động qua lại với nhau. Trong hệ sinh thái đó, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, quản trị, thể chế, doanh nghiệp, thị trường và văn hóa đổi mới sáng tạo không tồn tại độc lập mà liên kết thành một quá trình chuyển hóa liên tục từ tri thức đến phát triển.
Khác với cách tiếp cận truyền thống thường tập trung vào từng lĩnh vực riêng biệt, cách tiếp cận hệ sinh thái nhấn mạnh việc tổ chức, điều phối và kết nối các nguồn lực nhằm tạo ra năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo đó, giá trị của công nghệ lượng tử không chỉ được đo bằng các thành tựu nghiên cứu hay số lượng công bố khoa học mà còn bằng khả năng chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp, chính sách, thị trường và lợi ích kinh tế – xã hội.
Từ quan điểm đó, có thể phác thảo mô hình hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam gồm tám tầng liên kết, trong đó mỗi tầng vừa có chức năng riêng, vừa tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của các tầng tiếp theo.
A. Kêt cấu tám tầng
1. Tầng nền tảng tri thức
Đây là nền móng của toàn bộ hệ sinh thái. Không có nền tảng khoa học vững chắc thì không thể hình thành các công nghệ lượng tử có giá trị.
Tầng này bao gồm các lĩnh vực cốt lõi như toán học, vật lý lượng tử, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, khoa học hệ thống, khoa học vật liệu và các ngành khoa học liên ngành khác. Đây là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và hình thành năng lực nghiên cứu nền tảng của quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, đầu tư cho tri thức cần được hiểu không chỉ là đầu tư cho nghiên cứu cơ bản mà còn là đầu tư cho năng lực học tập, năng lực sáng tạo và năng lực hội nhập vào mạng lưới tri thức toàn cầu.
2. Tầng công nghệ nền
Từ nền tảng tri thức sẽ hình thành các công nghệ lõi của kỷ nguyên lượng tử. Các lĩnh vực trọng tâm gồm: máy tính lượng tử; truyền thông lượng tử; cảm biến lượng tử; mật mã lượng tử; phần mềm và thuật toán lượng tử; tích hợp AI với công nghệ lượng tử.
Đây là tầng tạo ra các công nghệ có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như quốc phòng, tài chính, y tế, logistics, sản xuất thông minh, an ninh mạng và khoa học tính toán.
Đối với Việt Nam, phát triển công nghệ nền không nhất thiết phải dàn trải trên tất cả các lĩnh vực, mà cần xác định các hướng ưu tiên phù hợp với năng lực khoa học, nguồn lực đầu tư và nhu cầu phát triển của đất nước.
3. Tầng hạ tầng đổi mới sáng tạo
Nếu hai tầng đầu tạo ra tri thức và công nghệ thì tầng thứ ba tạo ra môi trường để tri thức được chuyển hóa thành đổi mới sáng tạo.
Tầng này bao gồm: các trường đại học; viện nghiên cứu; phòng thí nghiệm trọng điểm; trung tâm đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp công nghệ; mạng lưới hợp tác quốc tế; các tổ chức trung gian hỗ trợ chuyển giao công nghệ.
Đây là không gian kết nối giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, đồng thời là nơi thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ và các chương trình hợp tác liên ngành.
4. Tầng quản trị và thể chế
Đây là tầng giữ vai trò điều phối và tạo lập môi trường phát triển cho toàn bộ hệ sinh thái. Các thành tố chủ yếu bao gồm: chiến lược quốc gia; chính sách khoa học và công nghệ; pháp luật; tiêu chuẩn kỹ thuật; cơ chế đầu tư; cơ chế tài chính; sở hữu trí tuệ; quản trị dữ liệu và an toàn thông tin; đạo đức công nghệ.
Trong nhiều trường hợp, hạn chế lớn nhất của phát triển công nghệ không phải do thiếu tri thức mà do thiếu thể chế phù hợp để hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ. Vì vậy, xây dựng thể chế linh hoạt, minh bạch và có khả năng thích ứng là điều kiện quan trọng để hệ sinh thái vận hành hiệu quả.
5. Tầng thị trường và đổi mới sáng tạo
Một công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được thị trường tiếp nhận và chuyển hóa thành năng lực sản xuất, kinh doanh và phát triển. Tầng này bao gồm: doanh nghiệp công nghệ; doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; các quỹ đầu tư mạo hiểm; hệ thống tài chính; các tổ chức chuyển giao công nghệ; mạng lưới hợp tác công – tư; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đây là cầu nối giữa khoa học và nền kinh tế, giúp các thành tựu nghiên cứu không dừng lại trong phòng thí nghiệm mà trở thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng cho xã hội.
6. Tầng xã hội và nguồn nhân lực
Sự phát triển của công nghệ lượng tử không chỉ phụ thuộc vào các nhà khoa học mà còn phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và sự sẵn sàng của xã hội. Các thành tố của tầng này gồm: giáo dục phổ thông và đại học; đào tạo nhân lực chất lượng cao; đào tạo lại và nâng cao kỹ năng; văn hóa đổi mới sáng tạo; công dân số; đạo đức AI và công nghệ lượng tử; truyền thông khoa học.
Đây là tầng tạo ra nguồn lực con người, hình thành nhận thức xã hội và xây dựng văn hóa đổi mới – những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của hệ sinh thái.
7. Tầng phát triển quốc gia
Khi các tầng trên vận hành đồng bộ, kết quả không chỉ là sự phát triển của một ngành công nghệ mà còn góp phần nâng cao năng lực phát triển quốc gia.
Các mục tiêu chủ yếu gồm: nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phát triển kinh tế tri thức; thúc đẩy tăng trưởng xanh; bảo đảm an ninh quốc gia; nâng cao chất lượng quản trị; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đây là tầng phản ánh hiệu quả tổng hợp của toàn bộ hệ sinh thái.
8. Tầng văn minh AI – lượng tử
Đây là tầng giá trị cao nhất và cũng là mục tiêu phát triển lâu dài.
Văn minh AI – lượng tử không chỉ được hiểu là một nền văn minh có trình độ công nghệ cao, mà là một mô hình phát triển trong đó khoa học, công nghệ, quản trị, đạo đức, văn hóa và con người phát triển hài hòa. Công nghệ không trở thành mục tiêu tự thân mà là phương tiện để nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển con người và xây dựng một xã hội sáng tạo, bền vững và nhân văn.
Từ góc độ này, hệ sinh thái công nghệ lượng tử không chỉ phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn hướng tới nâng cao năng lực tự chủ khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an ninh quốc gia và đóng góp vào tiến trình xây dựng nền văn minh số của Việt Nam.
B. Cách tiếp cận kiến tạo từ góc nhìn Tư duy thực tiễn lượng tử
Điểm khác biệt của cách tiếp cận này là không xem tám tầng trên như các bộ phận tách rời, mà như một chuỗi chuyển hóa liên tục phi tuyến. Tư duy thực tiễn lượng tử giữ vai trò phương pháp luận liên kết, điều phối và thúc đẩy sự chuyển hóa giữa các tầng của hệ sinh thái theo logic:
Tri thức → Công nghệ → Đổi mới sáng tạo → Quản trị → Thể chế → Thị trường → Phát triển quốc gia → Văn minh.
Trong chuỗi đó, mỗi tầng vừa là kết quả của tầng trước, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển của tầng sau; đồng thời luôn tồn tại các cơ chế phản hồi, học hỏi và điều chỉnh để thích ứng với những biến đổi của khoa học, công nghệ và bối cảnh phát triển. Vì vậy, kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử không phải là việc phát triển từng thành phần riêng lẻ, mà là xây dựng một hệ thống phát triển đồng bộ, trong đó khoa học, công nghệ, giáo dục, doanh nghiệp, quản trị và thể chế cùng hướng tới mục tiêu chung là nâng cao năng lực quốc gia và đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử.
III. TƯ DUY THỰC TIỄN LƯỢNG TỬ – MỘT GÓC NHÌN MỚI CỦA TRIẾT HỌC LƯỢNG TỬ: TỪ NGHIÊN CỨU ĐẾN THỰC TIỄN, NHƯNG…
Sự phát triển của khoa học lượng tử không chỉ làm thay đổi nhận thức về thế giới tự nhiên mà còn đặt ra yêu cầu phải đổi mới tư duy trong việc chuyển hóa tri thức khoa học thành động lực phát triển. Trong nhiều thập niên qua, triết học khoa học hiện đại đã tập trung làm sáng tỏ bản chất của khoa học, tiêu chuẩn kiểm chứng lý thuyết và mối quan hệ giữa quan sát, mô hình và thực tại. Tuy nhiên, các hướng tiếp cận này chủ yếu dừng lại ở bình diện nhận thức luận và phương pháp luận của khoa học, trong khi chưa xây dựng một khung lý luận về quá trình chuyển hóa tri thức khoa học thành công nghệ, thể chế, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển xã hội.
Khoảng trống này nằm ở giao điểm giữa triết học khoa học, kinh tế học đổi mới sáng tạo, khoa học quản trị, khoa học chính sách và lý thuyết hệ thống. Từ góc nhìn đó, qau quá trình nghiên cứu gần đây, trong bài viết này chúng tôi đề xuất khái niệm “Tư duy thực tiễn lượng tử” như một cách tiếp cận triết học định hướng ứng dụng, nhằm nghiên cứu các nguyên lý và cơ chế chuyển hóa tri thức khoa học thành năng lực công nghệ, năng lực quản trị và năng lực phát triển trong điều kiện thế giới ngày càng phức hợp, bất định và biến đổi nhanh.
1. Chuyển lý thuyết thành thực tiễn hóa: tư duy lượng tử thực tiễn
Điểm xuất phát của cách tiếp cận này là nhận định: một lý thuyết khoa học chỉ thực sự trở thành lực lượng phát triển khi được chuyển hóa thành hành động và giá trị xã hội. Quá trình đó có thể được hình dung như một chuỗi đổi mới sáng tạo 11 yêu tố:
Quan sát → Mô hình → Lý thuyết → Thực nghiệm → Công nghệ → Sản phẩm → Thị trường → Hệ sinh thái → Thể chế → Văn hóa → Văn minh.
Mỗi mắt xích đều có vai trò riêng, nhưng chỉ khi được kết nối, dần dần đồng bộ hóa thành một hệ thống thống nhất thì tri thức khoa học mới tạo ra tác động lâu dài đối với sự phát triển. Nếu chuỗi này bị gián đoạn ở bất kỳ khâu nào, kết quả nghiên cứu sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia hay giá trị xã hội. Đây cũng là cơ sở để bài viết đề xuất khái niệm “Chuỗi đổi mới sáng tạo thưc tiễn lượng tử” (Quantum Innovation Chain) như một mô hình phân tích và tổ chức quá trình phát triển công nghệ lượng tử, hệ sinh thái lượng tử.
Từ đó, có thể cho rằng nội hàm của “Tư duy lượng tử” cần được mở rộng. Nếu trước đây tư duy lượng tử chủ yếu tập trung vào bản thể luận lượng tử (Quantum Ontology), nhận thức luận lượng tử (Quantum Epistemology), phương pháp luận lượng tử, thì trong bối cảnh hiện nay cần phát triển thành một khung toàn diện hơn, bao gồm 7 tầng:
(1) Quantum Ontology – nghiên cứu bản chất của thực tại.
(2) Quantum Epistemology – nghiên cứu cách thức con người nhận thức và kiểm chứng tri thức.
(3) Quantum Methodology – phương pháp nghiên cứu và kiểm chứng khoa học.
(4) Quantum Engineering – chuyển hóa tri thức thành công nghệ.
(5) Quantum Innovation – chuyển hóa công nghệ thành đổi mới sáng tạo và giá trị kinh tế.
(6) Quantum Institution – xây dựng thể chế và chính sách thúc đẩy đổi mới.
(7) Quantum Civilization – kiến tạo một nền văn minh được nâng cao bởi các công nghệ lượng tử đã được kiểm chứng và triển khai.
Trong cách hiểu này, “Văn minh lượng tử” không phải là một xã hội vận hành theo các hiện tượng kỳ lạ của cơ học lượng tử, mà là một giai đoạn phát triển mới của văn minh nhân loại được hỗ trợ bởi những công nghệ lượng tử đã được kiểm chứng như máy tính lượng tử, truyền thông lượng tử, cảm biến lượng tử, mô phỏng lượng tử và các công nghệ liên quan. Cách tiếp cận này giúp khái niệm “Văn minh lượng tử” giữ được nền tảng khoa học và tránh biến thành một ẩn dụ thiếu cơ sở thực chứng.
Từ góc nhìn đó, Tư duy thực tiễn lượng tử như vậy, có thể được định nghĩa là một phương thức tư duy triết học định hướng ứng dụng, kế thừa các thành tựu đã được kiểm chứng của khoa học hiện đại – đặc biệt là khoa học lượng tử, khoa học hệ thống, khoa học thông tin và khoa học phức hợp – nhằm chuyển hóa tri thức khoa học thành năng lực công nghệ, năng lực quản trị, năng lực thể chế và năng lực phát triển. Ở đây, “Lượng tử” không được hiểu là áp dụng trực tiếp các định luật của cơ học lượng tử vào quản trị hay xã hội, mà là nguồn cảm hứng phương pháp luận để xây dựng những cách tiếp cận mới đối với các hệ thống phức hợp và đổi mới sáng tạo.
Về phương diện triết học, tư duy thực tiễn lượng tử kế thừa tinh thần của triết học Mác khi coi thực tiễn là sáng tạo lịch sử, bản chất của đời sống loài người chứ không chỉ là cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý; đồng thời mở rộng nội hàm của thực tiễn trong bối cảnh kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thực tiễn không chỉ là hoạt động sản xuất vật chất mà còn bao gồm qui trình sáng tạo tri thức, đổi mới công nghệ, quản trị, xây dựng thể chế và kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó, triết học không chỉ có chức năng giải thích thế giới mà còn góp phần thiết kế các cơ chế can thiệp và chuyển hóa thế giới.
So với triết học công nghệ, tư duy thực tiễn lượng tử không dừng ở việc phân tích bản chất hay tác động của công nghệ mà tập trung nghiên cứu cơ chế chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển. So với triết học quản trị, nó nhấn mạnh vai trò của quản trị như cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và phát triển quốc gia. So với triết học sinh thái, nó xem hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là không gian vận hành của quá trình phát triển. So với triết học văn minh, mục tiêu cuối cùng không phải là sở hữu công nghệ lượng tử mà là xây dựng một nền văn minh trong đó khoa học, công nghệ, đạo đức và phát triển con người được kết hợp hài hòa.
Trên cơ sở đó, đối tượng nghiên cứu của tư duy thực tiễn lượng tử không phải là các hiện tượng lượng tử tự thân, mà là các nguyên lý và phương thức giúp con người, tổ chức và xã hội chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển trong điều kiện bất định và phức hợp theo một lô gíc biện chứng thực tiễn cả cô điển và hậu cổ điển đa trị/ “Lượng tử”. Điều này làm cho tư duy thực tiễn lượng tử khác với tư duy truyền thống ở chỗ: không chỉ phân tích mà còn thiết kế; không chỉ nhận thức mà còn kiến tạo; không chỉ giải thích mà còn chuyển hóa, không chỉ cổ điển mà còn hậu cổ điển.
Về phương pháp luận, cách tiếp cận này có thể được xây dựng trên một số nguyên lý cơ bản như: nguyên lý quan hệ, nguyên lý bất định, nguyên lý thích nghi, nguyên lý phản hồi, nguyên lý đồng sáng tạo, nguyên lý đồng bộ hóa (coherence), nguyên lý chuyển hóa và nguyên lý tiến hóa. Các nguyên lý này cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của triết học và khoa học hệ thống, đồng thời phân biệt rõ đâu là cảm hứng từ khoa học lượng tử, đâu là kết quả của khoa học quản trị, khoa học hệ thống và lý thuyết đổi mới sáng tạo.
Từ đó, phạm vi ứng dụng của tư duy thực tiễn lượng tử không chỉ giới hạn trong nghiên cứu và phát triển công nghệ lượng tử mà còn mở rộng sang quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp, giáo dục, hoạch định chính sách, đổi mới sáng tạo và kiến tạo hệ sinh thái phát triển. Chính khả năng kết nối giữa tri thức khoa học, công nghệ, quản trị và phát triển xã hội là điểm khác biệt và cũng là giá trị lý luận chủ yếu của cách tiếp cận này trong bối cảnh kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử.
Theo đánh giá của tôi, điểm mới nhất của công trình không phải là cụm từ “Tư duy thực tiễn lượng tử”, mà là nội hàm hệ trình hóa của nó và logic “Chuyển hóa tri thức” và tính phi cổ điển của nó. Đây là luận điểm có thể phát triển thành đóng góp lý luận thực tiễn hóa lượng tử riêng:
Tri thức → Công nghệ → Đổi mới sáng tạo → Thể chế → Hệ sinh thái → Năng lực quốc gia → Văn minh.
Nếu tiếp tục phát triển công trình, tôi khuyến nghị lấy “Chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển” làm phạm trù trung tâm của toàn bộ lý thuyết. Khi đó, “Tư duy thực tiễn lượng tử” không chỉ là một tên gọi mới, mà trở thành một Khung Triết Học Về Logic Chuyển Hóa Tri Thức Trong Kỷ Nguyên AI và Công Nghệ Lượng Tử, vừa có khả năng đối thoại với triết học khoa học, vừa có thể kết nối với khoa học quản trị và nghiên cứu chính sách phát triển
2- Cần đặc biệt chú ý: Lượng tử hóa quá trình thực tiễn là chiều ẩn sâu của tư duy thực tiễn lượng tử khác thực tiễn cổ điển.
Đặc diểm này của tư duy thực tiễn lượng tử khác với tư duy thực tiển cổ điển mà rất ít người chú ý. Như vậy tư duy thực tiễn lưởng tử không chỉ là hiện thực hóa lý thuyết bằng một qui trình công nghệ quản trị.
Đó là tư duy thực tiễn lượng tử không chỉ tư duy lượng tử lý thuyết chuyển sang tư duy lượng tử thực tiễn, thực hành theo nghĩa chung mà nó có nội dung đặc thù so với thực tiễn cổ điển. Có thể so sánh:
| Tư duy thực tiễn cổ điển | Tư duy thực tiễn lượng tử |
| Một đường giải quyết | Không gian các khả năng |
| Tuyến tính | Phi tuyến/ mạng lưới tương tác |
| Nguyên nhân → kết quả | Tương tác → khả năng → hiện thực hóa |
| Dự báo một kết quả | Quản trị phân bố khả năng |
| Trạng thái tương đối ổn định | Chuyển trạng thái |
| Hành động để đạt mục tiêu đã xác định | Hành động để mở, chọn và hiện thực hóa khả năng |
Vậy có thể định nghĩa sơ bộ như sau: Tư duy thực tiễn lượng tử là một phương thức tư duy thực tiễn không xem hiện thực như một chuỗi tất định và tuyến tính từ nguyên nhân đến kết quả, mà xem hiện thực như một không gian các khả năng được mở ra, biến đổi và hiện thực hóa thông qua tương tác, lựa chọn, hành động và phản hồi, phức tạp đa chiều, bất định hơn nhiều.
Và từ đó: Thực tiễn lượng tử là quá trình biến các khả năng thành hiện thực, đồng thời để hiện thực mới tạo ra những khả năng mới. Ta có một vòng: Khả năng→Hành động→Hiện thực→Phản hồi→Khả năng mới. Đây – theo tôi – mới là điểm làm cho chữ “Thực tiễn” trong hệ thống mới này trở nên có nội hàm riêng (lượng tử hóa thực tiễn), chứ không chỉ là “ứng dụng lý thuyết lượng tử” biến thành thực tiễn, thực tiễn hóa lý thuyết.
IV. VAI TRÒ CỦA TƯ DUY THỰC TIỄN LƯỢNG TỬ TRONG KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ VÀ HƯỚNG TỚI KỶ NGUYÊN LƯỢNG TỬ
Nếu thế kỷ XX là thời đại của điện khí hóa, tự động hóa và công nghệ thông tin thì thế kỷ XXI đang mở ra một thời đại mới, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, khoa học dữ liệu, công nghệ sinh học và các hệ thống thông minh trở thành những động lực trung tâm của phát triển. Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực tạo ra, tổ chức và chuyển hóa tri thức thành sức mạnh khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị.
Đối với công nghệ lượng tử, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở việc làm chủ các nguyên lý vật lý hay phát triển các thiết bị kỹ thuật, mà còn ở khả năng tổ chức toàn bộ quá trình từ nghiên cứu khoa học đến đổi mới sáng tạo, từ công nghệ đến thể chế, từ doanh nghiệp đến thị trường và từ năng lực khoa học đến năng lực phát triển quốc gia. Chính ở đây, Tư duy thực tiễn lượng tử được đề xuất như một phương thức tư duy triết học định hướng ứng dụng nhằm kiến tạo và điều hành toàn bộ chuỗi chuyển hóa đó.
Theo cách tiếp cận này, Tư duy thực tiễn lượng tử không chỉ là tư duy về lượng tử, càng không phải là sự diễn giải xã hội bằng các khái niệm của cơ học lượng tử. Nội hàm của nó trước hết nằm ở thực tiễn. Đó là phương thức tư duy giúp xác định mục tiêu phát triển, thiết kế nhiệm vụ, tổ chức các điều kiện, xây dựng các quá trình và lựa chọn các giải pháp để chuyển hóa tri thức khoa học thành công nghệ, công nghệ thành năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và năng lực phát triển trong điều kiện thế giới phức hợp, bất định và biến đổi nhanh.
Nói cách khác, Tư duy thực tiễn lượng tử là sự thống nhất giữa tư duy kiến tạo, tư duy chuyển hóa, tư duy quản trị và tư duy đổi mới sáng tạo trên nền tảng các thành tựu đã được kiểm chứng của khoa học hiện đại. Giá trị của nó không nằm ở việc tạo ra một hệ thống khái niệm mới thay thế khoa học lượng tử, mà ở việc xây dựng một phương pháp luận tổ chức thực tiễn mới, cụ thể giúp tổ chức quá trình phát triển trong kỷ nguyên AI và lượng tử.
1. Chuyển từ tư duy nghiên cứu sang tư duy kiến tạo
Trong mô hình phát triển truyền thống, nghiên cứu khoa học thường được xem là đích đến của hoạt động học thuật. Tuy nhiên, trong nền kinh tế tri thức, nghiên cứu chỉ là điểm khởi đầu của một chuỗi chuyển hóa rộng lớn hơn.
“Tư duy thực tiễn lượng tử” đặt trọng tâm vào việc kiến tạo giá trị chứ không chỉ sản sinh tri thức. Thành công của một công trình nghiên cứu không chỉ được đánh giá bằng số lượng công bố quốc tế hay bằng sáng chế, mà còn bằng khả năng hình thành công nghệ mới, doanh nghiệp mới, mô hình quản trị mới, chính sách mới và cuối cùng là những giá trị kinh tế – xã hội cụ thể.
Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ logic “Nghiên cứu để biết” sang logic “Nghiên cứu để kiến tạo“. Nhà khoa học không chỉ là người khám phá tri thức mà còn tham gia vào mạng lưới đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý để đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống. Chính sự chuyển đổi này quyết định khả năng hình thành hệ sinh thái công nghệ lượng tử có sức sống và khả năng tự phát triển.
2. Chuyển từ tư duy đơn ngành sang tư duy liên ngành và hệ thống
Không một công nghệ lượng tử nào có thể phát triển tách rời khỏi hệ thống khoa học và công nghệ hiện đại. Máy tính lượng tử cần vật liệu mới, vi điện tử, thuật toán, AI, khoa học dữ liệu và hạ tầng tính toán; truyền thông lượng tử gắn với viễn thông, an toàn thông tin và hạ tầng số; cảm biến lượng tử đòi hỏi sự kết hợp giữa vật lý, kỹ thuật, y học và công nghiệp.
Do đó, “Tư duy thực tiễn lượng tử” yêu cầu vượt qua cách tiếp cận phân mảnh, phân ngành để hình thành tư duy hệ thống, phức hợp. Mỗi thành tựu khoa học cần được nhìn trong mối quan hệ với toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Giá trị của từng thành phần không chỉ phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào khả năng kết nối với các thành phần khác.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với Việt Nam, nơi nguồn lực còn hạn chế. Thay vì đầu tư dàn trải, cần tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, kết nối nghiên cứu lượng tử với AI, bán dẫn, an ninh mạng, khoa học dữ liệu, công nghệ vật liệu và quản trị đổi mới sáng tạo để hình thành các cụm công nghệ có năng lực cạnh tranh.
3. Chuyển từ phát triển công nghệ sang phát triển năng lực quốc gia
Công nghệ lượng tử chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần nâng cao năng lực phát triển của đất nước. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là sở hữu một số phòng thí nghiệm hay thiết bị hiện đại, mà là xây dựng năng lực quốc gia dựa trên khoa học và công nghệ.
Năng lực đó được hình thành từ sự kết nối đồng bộ giữa nghiên cứu khoa học, giáo dục, doanh nghiệp, tài chính, thể chế và quản trị. Thiếu bất kỳ mắt xích nào, hệ sinh thái sẽ khó vận hành hiệu quả. Chính vì vậy, tư duy thực tiễn lượng tử không xem khoa học là một lĩnh vực biệt lập mà là một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia.
Trong cách tiếp cận này, hệ sinh thái công nghệ lượng tử không chỉ tạo ra công nghệ mới mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, củng cố an ninh công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và mở rộng vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
4. Chuyển từ phát triển công nghệ sang kiến tạo thể chế và văn hóa đổi mới
Lịch sử phát triển khoa học cho thấy nhiều quốc gia không thất bại vì thiếu tri thức mà vì thiếu thể chế phù hợp để chuyển hóa tri thức thành sức mạnh phát triển.
Do đó, “Tư duy thực tiễn lượng tử” nhấn mạnh rằng phát triển công nghệ luôn phải đi cùng phát triển thể chế. Điều này bao gồm xây dựng chiến lược quốc gia, hoàn thiện khung pháp lý, phát triển tiêu chuẩn, bảo vệ sở hữu trí tuệ, tạo cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), khuyến khích đầu tư mạo hiểm và tăng cường hợp tác công – tư.
Đồng thời, cần hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo, trong đó nghiên cứu dài hạn, hợp tác liên ngành, chia sẻ tri thức, chấp nhận rủi ro khoa học và tinh thần khởi nghiệp công nghệ trở thành những giá trị được khuyến khích trong toàn xã hội. Đây là điều kiện để hệ sinh thái công nghệ lượng tử như một siêu cơ thể sống phát triển bền vững.
5. Định hướng ưu tiên trong kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam
Từ góc nhìn của “Tư duy thực tiễn lượng tử”, việc kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam cần được triển khai đồng bộ trên năm phương diện.
-Thứ nhất, xây dựng Chiến lược quốc gia về công nghệ lượng tử và hệ sinh thái lượng tử với tầm nhìn dài hạn, xác định rõ mục tiêu, lộ trình phát triển, các lĩnh vực ưu tiên, cơ chế đầu tư và hợp tác quốc tế.
-Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực liên ngành, không chỉ trong vật lý lượng tử và toán học mà còn ở khoa học máy tính, AI, khoa học dữ liệu, kỹ thuật lượng tử, quản trị công nghệ và chính sách khoa học.
-Thứ ba, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ hình thành các startup công nghệ lượng tử, tăng cường chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường cho các sản phẩm công nghệ cao.
-Thứ tư, hoàn thiện thể chế đổi mới sáng tạo, bao gồm chính sách khoa học, cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế thử nghiệm chính sách và các công cụ khuyến khích đầu tư vào công nghệ chiến lược.
-Thứ năm, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, khuyến khích tư duy liên ngành, hợp tác mở, nghiên cứu dài hạn, tinh thần khởi nghiệp khoa học và trách nhiệm đạo đức trong phát triển AI và công nghệ lượng tử.
6. Hướng tới kỷ nguyên lượng tử
Từ góc nhìn triết học phát triển, kỷ nguyên lượng tử không chỉ là giai đoạn xuất hiện các công nghệ lượng tử, mà là quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển của xã hội trên cơ sở những năng lực mới do khoa học và công nghệ tạo ra. Vì vậy, chuẩn bị cho kỷ nguyên lượng tử không chỉ là đầu tư cho phòng thí nghiệm hay thiết bị, mà trước hết là chuẩn bị về tư duy, thể chế, nguồn nhân lực và năng lực quản trị.
Trong ý nghĩa đó, Tư duy thực tiễn lượng tử có thể được xem như một phương pháp luận, một triết lý của sự chuyển hóa: chuyển hóa tri thức thành công nghệ, chuyển hóa công nghệ thành năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển hóa đổi mới sáng tạo thành năng lực quốc gia và cuối cùng chuyển hóa năng lực quốc gia thành nền tảng của một nền văn minh AI – lượng tử, lấy con người, đạo đức và phát triển bền vững làm trung tâm. Đây cũng chính là vai trò cốt lõi của tư duy thực tiễn lượng tử trong kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam và trong quá trình chuẩn bị cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Theo tôi, đây là luận điểm trung tâm của toàn bộ tham luận, thì có thể được nâng lên thành một mô hình triết học với tên gọi:
Logic 9 cấu trình chuyển hóa của Tư duy thực tiễn lượng tử: Nhận thức → Thiết kế → Tổ chức → Thực thi → Phản hồi → Chuyển hóa → Kiến tạo → Phát triển → Văn minh.
Mô hình này khái quát toàn bộ nội dung của “Tư duy thực tiễn lượng tử” thành một logic hành động. Khi đó, “Tư duy thực tiễn lượng tử” sẽ không chỉ là một khái niệm mà trở thành một phương pháp luận phát triển có thể vận dụng trong quản trị quốc gia, doanh nghiệp, giáo dục và đổi mới sáng tạo.
V. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ KIẾN TẠO VÀ VẬN HÀNH HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ NHÌN TỪ TINH THẦN TRIẾT HỌC THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ lượng tử trong khoảng hai thập niên gần đây cho thấy một thực tế đáng chú ý: không có quốc gia nào thành công chỉ nhờ phát triển khoa học hay công nghệ đơn lẻ. Những quốc gia đang dẫn đầu như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia đều không chỉ đầu tư vào nghiên cứu vật lý lượng tử mà còn xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, trong đó khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, thể chế, tài chính, giáo dục và hợp tác quốc tế được tổ chức như một chỉnh thể thống nhất.
Điều đáng chú ý là mặc dù cách thức tổ chức khác nhau, các quốc gia này đều thể hiện một tinh thần triết học thực tiễn: coi tri thức khoa học không phải là đích đến cuối cùng mà là điểm khởi đầu của quá trình chuyển hóa thành năng lực phát triển quốc gia. Đây chính là điểm gặp gỡ với cách tiếp cận mà bài viết gọi là Tư duy thực tiễn lượng tử.
1. Từ đầu tư nghiên cứu sang kiến tạo hệ sinh thái
Một đặc điểm nổi bật của các quốc gia đi đầu là sự chuyển đổi từ tư duy “đầu tư cho nghiên cứu” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”.
Thay vì xem các viện nghiên cứu hay trường đại học là những đơn vị hoạt động độc lập, họ xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, quỹ đầu tư và thị trường. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, tạo lập thể chế và định hướng chiến lược; đại học và viện nghiên cứu tạo ra tri thức mới; doanh nghiệp thương mại hóa công nghệ; còn thị trường đóng vai trò kiểm chứng và thúc đẩy đổi mới.
Điều này cho thấy, trong kỷ nguyên lượng tử, năng lực cạnh tranh không còn phụ thuộc chủ yếu vào số lượng công trình nghiên cứu mà phụ thuộc vào khả năng tổ chức chuỗi chuyển hóa từ tri thức đến phát triển.
2. Từ phát triển công nghệ sang phát triển năng lực quốc gia
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy công nghệ lượng tử luôn được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia.
Các chương trình quốc gia về lượng tử không chỉ hướng tới mục tiêu làm chủ một số công nghệ lõi mà còn hướng tới nâng cao năng lực khoa học, an ninh quốc gia, chuyển đổi số, phát triển công nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Như vậy, công nghệ lượng tử không phải là mục tiêu tự thân mà là phương tiện để nâng cao năng lực quốc gia. Đây cũng là điểm khác biệt giữa cách tiếp cận phát triển ngành với cách tiếp cận phát triển hệ sinh thái.
3. Nhà nước kiến tạo giữ vai trò trung tâm
Một bài học quan trọng khác là vai trò của Nhà nước đã thay đổi. Nhà nước không còn là chủ thể trực tiếp thực hiện toàn bộ hoạt động nghiên cứu và sản xuất, mà chuyển sang vai trò kiến tạo phát triển. Vai trò đó thể hiện ở việc xây dựng chiến lược quốc gia, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, hoàn thiện thể chế, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp.
Nói cách khác, Nhà nước không thay thế thị trường nhưng tạo điều kiện để thị trường và khoa học cùng phát triển. Đây là tư duy quản trị hiện đại rất đáng tham khảo đối với Việt Nam.
4. Liên ngành trở thành nguyên lý phát triển
Không một quốc gia nào phát triển công nghệ lượng tử theo mô hình khép kín. Máy tính lượng tử gắn với bán dẫn, AI, khoa học dữ liệu và toán học; truyền thông lượng tử gắn với viễn thông và an ninh mạng; cảm biến lượng tử gắn với y học, công nghiệp và quốc phòng.
Do đó, các chương trình lượng tử trên thế giới đều được tổ chức theo hướng liên ngành, kết nối giữa khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học máy tính, khoa học quản trị, kinh tế học và chính sách công.
Điều này khẳng định rằng phát triển công nghệ lượng tử trước hết là một bài toán về tổ chức hệ thống, chứ không chỉ là bài toán của vật lý lượng tử.
5. Phát triển nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu
Một đặc điểm chung của các quốc gia thành công là đầu tư rất sớm cho giáo dục. Nguồn nhân lực không chỉ bao gồm các nhà vật lý lượng tử mà còn có toán học, AI, khoa học dữ liệu, kỹ thuật điện tử, khoa học vật liệu, luật công nghệ, quản trị đổi mới sáng tạo và chính sách khoa học.
Như vậy, phát triển nhân lực được xem là đầu tư cho tương lai của hệ sinh thái chứ không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt của các phòng thí nghiệm.
6. Hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy hệ sinh thái công nghệ không thể phát triển nếu thiếu một nền văn hóa đổi mới sáng tạo.
Nền văn hóa đó khuyến khích tư duy độc lập, hợp tác liên ngành, chia sẻ tri thức, chấp nhận rủi ro khoa học và coi thất bại trong nghiên cứu là một phần của quá trình sáng tạo.
Đây là điều kiện giúp các hệ sinh thái đổi mới có khả năng tự học hỏi, tự điều chỉnh và phát triển bền vững.
7. Nhìn từ góc độ Triết học thực tiễn
Nếu quan sát sâu hơn, có thể nhận thấy đằng sau các chiến lược quốc gia về công nghệ lượng tử là một logic phát triển có tính triết học.
Đó là sự chuyển dịch từ triết học nhận thức sang triết học kiến tạo; từ giải thích thế giới sang thiết kế các điều kiện phát triển; từ tạo ra tri thức sang chuyển hóa tri thức thành sức mạnh quốc gia.
Theo nghĩa đó, điều mà bài viết gọi là Tư duy thực tiễn lượng tử không phải là một học thuyết tách biệt khỏi thực tiễn quốc tế, mà là sự khái quát hóa những nguyên lý phát triển đã và đang được nhiều quốc gia vận dụng trong xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điểm mới của cách tiếp cận này là đặt trọng tâm nghiên cứu vào logic chuyển hóa, kiến tạo tức là nghiên cứu các điều kiện, cơ chế và phương thức giúp tri thức khoa học được chuyển hóa thành công nghệ, thể chế, doanh nghiệp, thị trường và năng lực phát triển. Đây cũng là điểm còn ít được hệ thống hóa trong triết học khoa học truyền thống.
8. Một số gợi ý đối với Việt Nam
Từ những kinh nghiệm trên, có thể rút ra một số gợi ý đối với Việt Nam.
-Thứ nhất, cần chuyển từ tư duy phát triển từng ngành sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử. Trọng tâm không phải là xây dựng một số phòng thí nghiệm hiện đại mà là kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, quỹ đầu tư và đối tác quốc tế thành một mạng lưới đổi mới sáng tạo thống nhất.
-Thứ hai, cần xây dựng Chiến lược quốc gia về công nghệ lượng tử gắn với Chiến lược AI, chuyển đổi số, phát triển bán dẫn và kinh tế số. Công nghệ lượng tử cần được xem là một trong những công nghệ nền tảng của phát triển quốc gia trong dài hạn.
-Thứ ba, cần hình thành hệ thống đào tạo liên ngành về lượng tử, kết hợp vật lý, toán học, AI, khoa học dữ liệu, kỹ thuật, quản trị công nghệ và chính sách công. Đây là điều kiện để xây dựng đội ngũ nhân lực có khả năng nghiên cứu, triển khai và quản trị hệ sinh thái công nghệ lượng tử.
-Thứ tư, cần hoàn thiện thể chế đổi mới sáng tạo, bao gồm cơ chế đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản, chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) và các công cụ tài chính dành cho doanh nghiệp công nghệ.
-Thứ năm, cần xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo dựa trên tinh thần hợp tác mở, chia sẻ tri thức, nghiên cứu dài hạn, chấp nhận rủi ro khoa học và phát triển trách nhiệm đạo đức đối với AI và công nghệ lượng tử.
Quan trọng hơn cả, Việt Nam cần hình thành một tư duy phát triển mới, trong đó khoa học không chỉ nhằm mở rộng hiểu biết mà còn phải tạo ra năng lực phát triển; công nghệ không chỉ là sản phẩm của nghiên cứu mà còn là động lực đổi mới; quản trị không chỉ là điều hành mà còn là kiến tạo; còn thể chế không chỉ quản lý mà phải thúc đẩy sáng tạo.
9. Từ kinh nghiệm quốc tế đến mô hình Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình phát triển công nghệ lượng tử chung cho mọi quốc gia. Mỗi nước đều lựa chọn con đường phù hợp với trình độ khoa học, nguồn lực và điều kiện phát triển của mình.
Đối với Việt Nam, điều quan trọng không phải là sao chép mô hình của các nước đi trước mà là xây dựng một mô hình hệ sinh thái công nghệ lượng tử mang bản sắc, lợi thế Việt Nam, dựa trên lợi thế về nguồn nhân lực, khả năng hội nhập quốc tế và chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ góc nhìn đó, Tư duy thực tiễn lượng tử có thể đóng vai trò như một phương pháp luận định hướng cho quá trình này. Giá trị của nó không nằm ở việc thay thế các lý thuyết hiện có mà ở việc kết nối các lĩnh vực tưởng như tách biệt – từ khoa học, công nghệ, quản trị, thể chế đến văn hóa và phát triển – thành một logic thống nhất của kiến tạo hệ sinh thái. Đây cũng là con đường để Việt Nam không chỉ tham gia vào cuộc cách mạng lượng tử với tư cách người tiếp nhận công nghệ, mà từng bước trở thành một chủ thể sáng tạo, có năng lực đóng góp vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khu vực và toàn cầu.
VI. THIẾT KẾ TỔNG THỂ MÔ HÌNH VÀ TIẾN TRÌNH KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI CÔNG NGHỆ LƯỢNG TỬ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2045 THEO LOGIC PHÁT TRIỂN VÀ BIỆN CHỨNG THỰC TIỄN VIỆT NAM
1. Quan điểm thiết kế mô hình
Từ góc nhìn của Tư duy thực tiễn lượng tử, phát triển công nghệ lượng tử không nên được hiểu đơn thuần là phát triển một lĩnh vực khoa học hay một nhóm công nghệ mới, mà là quá trình kiến tạo một hệ sinh thái phát triển quốc gia. Hệ sinh thái đó phải có khả năng chuyển hóa liên tục các nguồn lực khoa học, công nghệ và xã hội thành năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh và năng lực phát triển bền vững.
Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam, bài viết đề xuất Mô hình Hệ sinh thái Công nghệ lượng tử Việt Nam (Vietnam Quantum Technology Ecosystem Model – VQTEM) như một khung lý thuyết và định hướng chính sách cho quá trình phát triển đến năm 2045.
Khác với cách tiếp cận coi hệ sinh thái chỉ là tập hợp các chủ thể (nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp…), VQTEM xem hệ sinh thái là một hệ thống động, trong đó các nguồn lực đầu vào được chuyển hóa thông qua cơ chế quản trị, đổi mới sáng tạo và Tư duy thực tiễn lượng tử để tạo ra các kết quả phát triển và giá trị xã hội.
Theo logic đó, VQTEM được cấu trúc thành bốn hợp phần cơ bản: Đầu vào (Inputs) – Lõi chuyển hóa (Transformation Core) – Đầu ra (Outputs) – Đích đến (Outcomes).
2. Hợp phần thứ nhất: Đầu vào (Inputs) – Nền tảng của hệ sinh thái
Đầu vào của hệ sinh thái không chỉ bao gồm các nguồn lực vật chất mà còn bao gồm toàn bộ các điều kiện bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của công nghệ lượng tử.
-Thứ nhất, triết học khoa học, tri thức khoa học và công nghệ là nền tảng cốt lõi, bao gồm toán học, vật lý lượng tử, khoa học máy tính, AI, khoa học dữ liệu, khoa học hệ thống, khoa học vật liệu và các lĩnh vực liên ngành.
-Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò quyết định. Hệ sinh thái chỉ có thể phát triển nếu hình thành được đội ngũ các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia quản trị công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo và nhà hoạch định chính sách có năng lực liên ngành.
-Thứ ba, hạ tầng tri thức cơ bản, nền tảng và dữ liệu, hạ tầng số và hạ tầng nghiên cứu là điều kiện để thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ.
-Thứ tư, nguồn vốn đầu tư cần được huy động từ nhiều kênh: ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, hợp tác quốc tế và các cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo.
-Thứ năm, thể chế và chính sách là đầu vào có tính kiến tạo, tạo lập môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, hợp tác, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Như vậy, đầu vào của VQTEM không chỉ là nguồn lực mà còn là tổng hòa các điều kiện phát triển, quyết định khả năng vận hành của toàn bộ hệ sinh thái.
3. Hợp phần thứ hai: Lõi chuyển hóa (Transformation Core) – Trung tâm của mô hình
Đây là điểm mới quan trọng của VQTEM. Nếu nhiều mô hình đổi mới sáng tạo tập trung vào các yếu tố đầu vào và đầu ra, thì VQTEM nhấn mạnh quá trình chuyển hóa như khâu quyết định tạo ra giá trị.
Lõi chuyển hóa gồm bốn thành tố liên kết hữu cơ.
-Trước hết là Tư duy thực tiễn lượng tử, đóng vai trò phương pháp luận chung, giúp định hướng quá trình nhận thức, thiết kế, tổ chức và điều hành hệ sinh thái. Đây không phải là việc vận dụng trực tiếp các định luật của cơ học lượng tử vào quản trị, mà là phương thức tư duy nhấn mạnh tính hệ thống, tính thích nghi, tính liên kết, tính đổi mới và khả năng chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển.
-Thứ hai là đổi mới sáng tạo, được hiểu là quá trình liên tục tạo ra và ứng dụng tri thức mới vào sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và mô hình quản trị. Đổi mới sáng tạo là cơ chế biến tri thức thành giá trị thực tiễn.
-Thứ ba là quản trị phát triển, bao gồm quản trị khoa học, quản trị công nghệ, quản trị đổi mới sáng tạo và quản trị hệ sinh thái. Quản trị không chỉ là điều hành mà còn là thiết kế, điều phối và kết nối các chủ thể nhằm tối ưu hóa quá trình chuyển hóa.
-Thứ tư là thể chế phát triển, bao gồm pháp luật, tiêu chuẩn, chính sách, cơ chế tài chính và hợp tác công – tư. Thể chế tạo lập “luật chơi” và môi trường cho toàn bộ hệ sinh thái vận hành hiệu quả.
Bốn thành tố này tương tác với nhau như “bộ não” của hệ sinh thái, quyết định hiệu quả chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả phát triển.
4. Hợp phần thứ ba: Đầu ra (Outputs) – Kết quả trực tiếp của hệ sinh thái
Khi lõi chuyển hóa vận hành hiệu quả, hệ sinh thái sẽ tạo ra các kết quả cụ thể.
-Thứ nhất là công nghệ lượng tử và các công nghệ tích hợp, bao gồm máy tính lượng tử, truyền thông lượng tử, cảm biến lượng tử, mật mã lượng tử và các ứng dụng kết hợp với AI, bán dẫn và dữ liệu lớn.
-Thứ hai là doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, các startup công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cùng các mạng lưới chuyển giao công nghệ.
-Thứ ba là thị trường công nghệ, nơi các kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, tạo ra giá trị kinh tế và thúc đẩy đầu tư cho đổi mới sáng tạo.
-Thứ tư là năng lực quốc gia, thể hiện ở năng lực nghiên cứu, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ công nghệ và năng lực hội nhập quốc tế.
Các đầu ra này vừa là kết quả của hệ sinh thái, vừa tạo nguồn lực mới cho chu trình phát triển tiếp theo thông qua cơ chế phản hồi và tái đầu tư.
5. Hợp phần thứ tư: Đích đến (Outcomes) – Giá trị phát triển dài hạn
Mục tiêu cuối cùng của VQTEM không phải chỉ là làm chủ một số công nghệ lượng tử, mà là kiến tạo một mô hình phát triển mới dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
Đích đến của hệ sinh thái gồm bốn phương diện.
-Một là, xây dựng nền kinh tế tri thức và kinh tế đổi mới sáng tạo, trong đó khoa học và công nghệ trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng.
-Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ quốc gia, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
-Ba là, thúc đẩy phát triển bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển con người.
-Bốn là, hướng tới nền văn minh AI – lượng tử, được hiểu là một giai đoạn phát triển trong đó các công nghệ AI và lượng tử đã được kiểm chứng, triển khai rộng rãi và được quản trị bằng các thể chế minh bạch, các chuẩn mực đạo đức và mục tiêu phát triển con người. Đây không phải là một “nền văn minh lượng tử” theo nghĩa các quy luật của cơ học lượng tử chi phối xã hội, mà là một nền văn minh được định hình bởi những thành tựu công nghệ lượng tử và AI phục vụ lợi ích của con người.
6. Tiến trình phát triển hệ sinh thái công nghệ lượng tử Việt Nam đến năm 2045
Theo mô hình VQTEM, tiến trình phát triển cần được triển khai theo logic kế thừa và tích lũy năng lực.
Giai đoạn 2026–2030 tập trung xây dựng nền tảng, bao gồm hoàn thiện chiến lược quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng nghiên cứu, xây dựng mạng lưới hợp tác và hình thành các cơ chế thể chế ban đầu.
Giai đoạn 2031–2035 chuyển trọng tâm sang hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hợp tác công – tư, phát triển doanh nghiệp công nghệ lượng tử và mở rộng các chương trình chuyển giao công nghệ.
Giai đoạn 2036–2040 ưu tiên mở rộng thị trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và xây dựng các cụm đổi mới sáng tạo AI – lượng tử có khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Giai đoạn 2041–2045 hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái công nghệ lượng tử quốc gia, đưa Việt Nam trở thành một trung tâm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lượng tử có vị thế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời tích hợp công nghệ lượng tử vào quản trị quốc gia, kinh tế số và phát triển bền vững.
Như vậy, VQTEM không chỉ là một sơ đồ mô tả mà là một mô hình lý thuyết về phát triển theo biện chứng thực tiễn hệ sinh thái công nghệ lượng tử, trong đó các yếu tố đầu vào, cơ chế chuyển hóa, đầu ra và mục tiêu phát triển được liên kết trong một logic thống nhất. Mô hình này đồng thời cung cấp một khung phân tích để đánh giá chính sách, xác định các điểm nghẽn và thiết kế lộ trình phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam trong tiến trình hướng tới năm 2045
VII. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG TỪ TƯ DUY THỰC TIỄN LƯỢNG TỬ VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM, ĐẶC BIỆT LÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
A. Một số quan điểm định hướng và kiến nghị kiến tạo hệ sinh thái công nghệ lượng tử
Từ góc nhìn của Tư duy thực tiễn lượng tử, phát triển công nghệ lượng tử không chỉ là phát triển một ngành khoa học hay một lĩnh vực công nghệ mới, mà là quá trình kiến tạo một hệ sinh thái phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại. Vì vậy, các chính sách quốc gia cần vượt ra khỏi tư duy đầu tư đơn ngành để chuyển sang tư duy hệ sinh thái, trong đó khoa học, công nghệ, giáo dục, doanh nghiệp, thể chế và văn hóa đổi mới sáng tạo được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất.
-Thứ nhất, xây dựng Chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử gắn với Chiến lược AI và chuyển đổi số
Việt Nam cần sớm xây dựng và ban hành Chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử với tầm nhìn dài hạn, đồng bộ với các chiến lược về AI, bán dẫn, chuyển đổi số, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chương trình cần xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển, cơ chế đầu tư, mô hình hợp tác công – tư và các chỉ tiêu đánh giá theo từng giai đoạn.
Theo tinh thần của Tư duy thực tiễn lượng tử, chương trình này không chỉ nhằm phát triển nghiên cứu khoa học mà còn hướng tới hình thành năng lực công nghệ, năng lực quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.
-Thứ hai, xây dựng mạng lưới liên ngành về khoa học lượng tử
Một đặc điểm nổi bật của công nghệ lượng tử là tính liên ngành rất cao. Do đó, cần hình thành mạng lưới hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong các lĩnh vực như vật lý lượng tử, toán học, khoa học máy tính, AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn, vật liệu mới, an toàn thông tin, quản trị công nghệ và chính sách khoa học.
Mạng lưới này cần hoạt động theo mô hình mở, thúc đẩy chia sẻ tri thức, hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đồng thời kết nối với các mạng lưới nghiên cứu quốc tế để nâng cao năng lực hội nhập của Việt Nam.
-Thứ ba, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo về công nghệ lượng tử
Thay vì đầu tư phân tán, cần từng bước xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo có khả năng tích hợp nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp.
Các trung tâm này cần quy tụ sự tham gia của viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, quỹ đầu tư và cơ quan quản lý, tạo thành những hạt nhân của hệ sinh thái công nghệ lượng tử quốc gia.
Đặc biệt, cần phát triển các phòng thí nghiệm mở, các nền tảng thử nghiệm và cơ chế hợp tác công – tư để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thực tiễn.
-Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển lâu dài của hệ sinh thái công nghệ lượng tử.
Cần xây dựng các chương trình đào tạo liên ngành về vật lý lượng tử, AI, khoa học dữ liệu, toán học, kỹ thuật lượng tử, bán dẫn, quản trị công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần đưa các nội dung về tư duy hệ thống, đạo đức công nghệ, quản trị đổi mới sáng tạo và Tư duy thực tiễn lượng tử vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đầu tư cho con người cần được xem là đầu tư cho năng lực phát triển quốc gia trong dài hạn.
-Thứ năm, xây dựng khung thể chế, quản trị và đạo đức công nghệ
Sự phát triển của AI và công nghệ lượng tử sẽ tạo ra nhiều vấn đề mới về an ninh, quyền riêng tư, sở hữu dữ liệu, trách nhiệm pháp lý và đạo đức công nghệ. Do đó, cần chủ động xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và các nguyên tắc đạo đức ngay từ giai đoạn đầu, bảo đảm công nghệ phát triển theo hướng an toàn, có trách nhiệm và lấy con người làm trung tâm.
Theo tinh thần của Tư duy thực tiễn lượng tử, quản trị không chỉ là hoạt động quản lý sau khi công nghệ xuất hiện mà phải là quá trình đồng hành cùng sự phát triển của công nghệ.
-Thứ sáu, phát triển nghiên cứu về triết học trong đó chú trọng triết học lượng tử – thông tin, quản trị và chính sách công nghệ lượng tử
Muốn phát triển bền vững, bên cạnh nghiên cứu khoa học tự nhiên và kỹ thuật, cần quan tâm nhiều hơn đến các nghiên cứu về triết học khoa học, triết học công nghệ, quản trị đổi mới sáng tạo, kinh tế học đổi mới và chính sách công đối với công nghệ lượng tử.
Đây là nền tảng lý luận quan trọng giúp định hướng chiến lược phát triển, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị trong kỷ nguyên AI và lượng tử.
-Thứ bảy, từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ lượng tử mang bản sắc Việt Nam
Việt Nam không nên lựa chọn con đường sao chép mô hình phát triển của các quốc gia khác mà cần xây dựng một hệ sinh thái phù hợp với điều kiện phát triển, nguồn lực và lợi thế của mình.
Đó phải là hệ sinh thái mở, gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, giáo dục, doanh nghiệp, tài chính, quản trị và hợp tác quốc tế; đồng thời hướng tới phát triển xanh, phát triển bao trùm và nâng cao năng lực tự chủ về khoa học và công nghệ.
B. Một số định hướng đối với Thành phố Hồ Chí Minh
Là trung tâm kinh tế, khoa học, giáo dục và đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện để trở thành địa phương tiên phong trong phát triển hệ sinh thái công nghệ lượng tử.
Thành phố cần chủ động xây dựng Đề án phát triển hệ sinh thái AI và công nghệ lượng tử, kết nối với Khu Công nghệ cao, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, các trường đại học, viện nghiên cứu, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (C4IR), Trung tâm Chuyển đổi số và cộng đồng doanh nghiệp công nghệ.
Một hướng đi khả thi là hình thành Trung tâm đổi mới sáng tạo AI – lượng tử của Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế như tính toán hiệu năng cao, AI, an ninh mạng, khoa học dữ liệu, tài chính số, logistics thông minh và y sinh.
Bên cạnh đó, Thành phố cần mạnh dạn triển khai các cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao, phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm và xây dựng môi trường thuận lợi để thu hút chuyên gia, nhà khoa học và các doanh nghiệp công nghệ quốc tế.
Nếu được triển khai đồng bộ, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành cực tăng trưởng mới và là hạt nhân của hệ sinh thái công nghệ lượng tử quốc gia.
C. Giai đoạn hóa quá trình phát triển và tầm nhìn đến năm 2050
-Giai đoạn 2026 – 2030: Xây dựng nền tảng
Đây là giai đoạn hình thành các điều kiện cơ bản cho sự phát triển lâu dài.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
+ Ban hành Chiến lược quốc gia về công nghệ lượng tử.
+ Thành lập Hội đồng quốc gia về AI và công nghệ lượng tử.
+ Đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm và các trung tâm nghiên cứu liên ngành.
+ Xây dựng mạng lưới nghiên cứu công nghệ lượng tử Việt Nam.
+ Triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
+ Hoàn thiện khung chính sách và bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lượng tử.
-Giai đoạn 2030 – 2040: Phát triển và mở rộng hệ sinh thái
Đây là giai đoạn chuyển từ nghiên cứu sang ứng dụng và thương mại hóa.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
+ Xây dựng Trung tâm đổi mới sáng tạo công nghệ lượng tử quốc gia.
+ Hình thành các doanh nghiệp công nghệ lượng tử và AI – lượng tử.
+ Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
+ Tích hợp AI, bán dẫn và công nghệ lượng tử vào chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ cao.
+ Tham gia tích cực vào các mạng lưới nghiên cứu, tiêu chuẩn và chuỗi giá trị toàn cầu.
+ Hình thành những cụm đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh trong khu vực.
-Giai đoạn 2040 – 2050: Hình thành nền tảng của kỷ nguyên lượng tử
Đây là giai đoạn hệ sinh thái công nghệ lượng tử vận hành tương đối hoàn chỉnh và trở thành một trong những động lực phát triển quốc gia.
Mục tiêu hướng tới là:
+ Hình thành hệ sinh thái công nghệ lượng tử hoàn chỉnh, liên thông giữa nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, tài chính và quản trị.
+ Đưa Việt Nam trở thành một trung tâm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lượng tử có uy tín trong khu vực Đông Nam Á.
+ Xây dựng nền kinh tế tri thức dựa trên AI, công nghệ lượng tử và đổi mới sáng tạo.
+ Phát triển mô hình quản trị quốc gia thông minh, dựa trên dữ liệu, khoa học và công nghệ.
+ Hình thành nền văn minh số lấy con người, đạo đức, sáng tạo và phát triển bền vững làm trung tâm.
D. Quan điểm kết luận chung
Nhìn từ Tư duy thực tiễn lượng tử, tương lai của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử không phụ thuộc trước hết vào việc sở hữu bao nhiêu thiết bị hiện đại hay bao nhiêu công bố khoa học, mà phụ thuộc vào khả năng thực hiện lộ trình mang tính “công nghệ” thực tiễn quản trị chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển. Đó là năng lực kiến tạo hệ sinh thái, năng lực tổ chức đổi mới sáng tạo, năng lực hoàn thiện thể chế và năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện bất định và biến đổi nhanh.
Vì vậy, phát triển công nghệ lượng tử cần được xem như một chiến lược hệ sinh thái phát triển quốc gia toàn diện, trong đó khoa học, công nghệ, giáo dục, doanh nghiệp, quản trị và văn hóa đổi mới sáng tạo cùng vận động trong một hệ thống thống nhất. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi của Tư duy thực tiễn lượng tử: không dừng lại ở nhận thức hay giải thích thế giới, mà hướng tới thiết kế, tổ chức và chuyển hóa các nguồn lực tri thức thành sức mạnh phát triển quốc gia một cách thực chất, đo đếm được góp phần đưa Việt Nam chủ động bước vào kỷ nguyên AI và công nghệ lượng tử với bản lĩnh, trách nhiệm và khát vọng phát triển bền vững./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(Bài viết có sử dụng ChatGPT)
Dưới đây là một số công trình và báo cáo tiêu biểu về kiến tạo, quản trị và vận hành hệ sinh thái công nghệ lượng tử. Hiện nay chưa có nhiều công trình dùng trực tiếp thuật ngữ quantum technology ecosystem, nhưng nhiều chiến lược quốc gia và nghiên cứu chính sách đã bàn sâu về xây dựng hệ sinh thái, đổi mới sáng tạo và quản trị công nghệ lượng tử.
1. OECD (2023), Emerging Quantum Technologies: Policy Perspectives
Nguồn: OECD Publishing, Paris.
Nội dung chính: Phân tích vai trò của chính sách công trong phát triển hệ sinh thái lượng tử; nhấn mạnh bốn trụ cột: nghiên cứu cơ bản, phát triển nhân lực, đầu tư dài hạn và liên kết giữa viện nghiên cứu – doanh nghiệp – nhà nước. Khuyến nghị xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thay vì chỉ đầu tư riêng cho nghiên cứu.
2. World Economic Forum (2022), Quantum Computing Governance Principles
Nguồn: World Economic Forum (WEF), Geneva.
Nội dung chính: Đề xuất các nguyên tắc quản trị đối với công nghệ lượng tử, nhấn mạnh phát triển hệ sinh thái dựa trên hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và cộng đồng quốc tế; đồng thời chú trọng đạo đức, tiêu chuẩn và quản trị rủi ro ngay từ giai đoạn đầu.
3. McKinsey & Company (2023), Quantum Technology Monitor
Nguồn: McKinsey & Company.
Nội dung chính: Đánh giá toàn cảnh hệ sinh thái lượng tử toàn cầu, bao gồm đầu tư, startup, nguồn nhân lực và xu hướng thương mại hóa. Chỉ ra rằng thành công của công nghệ lượng tử phụ thuộc vào việc xây dựng chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, không chỉ vào năng lực nghiên cứu.
4. National Quantum Initiative Act (Hoa Kỳ, 2018; cập nhật triển khai)
Nguồn: Quốc hội Hoa Kỳ và các báo cáo của National Quantum Coordination Office.
Nội dung chính: Thiết lập hệ sinh thái quốc gia về công nghệ lượng tử thông qua sự liên kết giữa các cơ quan liên bang, đại học, phòng thí nghiệm quốc gia và doanh nghiệp; ưu tiên đầu tư nghiên cứu, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và hợp tác công – tư.
5. European Commission (2023), Quantum Technologies Flagship
Nguồn: European Commission.
Nội dung chính: Chương trình Quantum Flagship xây dựng hệ sinh thái lượng tử quy mô châu Âu, kết nối nghiên cứu cơ bản, công nghệ, doanh nghiệp, tiêu chuẩn và thị trường nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và chủ quyền công nghệ của Liên minh châu Âu.
6. UK National Quantum Technologies Programme (2014–nay)
Nguồn: Chính phủ Vương quốc Anh.
Nội dung chính: Một trong những mô hình tiêu biểu về kiến tạo hệ sinh thái lượng tử, với các trung tâm đổi mới (Quantum Hubs), mạng lưới chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp và chương trình đào tạo nhân lực. Mục tiêu là rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa.
7. Quantum Delta NL (Hà Lan)
Nguồn: Quantum Delta NL (Chương trình quốc gia Hà Lan).
Nội dung chính: Phát triển hệ sinh thái lượng tử dựa trên ba trụ cột: nghiên cứu khoa học, phát triển doanh nghiệp và đào tạo nhân lực. Mô hình này đặc biệt chú trọng liên kết giữa trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và quỹ đầu tư để hình thành cụm đổi mới sáng tạo lượng tử.
8. CSIRO – Australia’s National Quantum Strategy (2023)
Nguồn: Chính phủ Australia.
Nội dung chính: Đề xuất chiến lược phát triển hệ sinh thái lượng tử thông qua đầu tư nghiên cứu, phát triển chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ, thúc đẩy hợp tác quốc tế và xây dựng khung quản trị phù hợp cho công nghệ lượng tử.
9. Boston Consulting Group (BCG) (2021), The Future is Quantum
Nguồn: Boston Consulting Group.
Nội dung chính: Phân tích điều kiện để hình thành ngành công nghiệp lượng tử, nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư, hệ sinh thái startup, nguồn nhân lực và chính sách công trong quá trình chuyển hóa công nghệ thành thị trường.
10. UNESCO (2025), International Year of Quantum Science and Technology (IYQ)
Nguồn: UNESCO và Ban Thư ký Năm Quốc tế Khoa học và Công nghệ Lượng tử.
Nội dung chính: Thúc đẩy hợp tác quốc tế, giáo dục, truyền thông khoa học và phát triển nguồn nhân lực lượng tử; coi việc xây dựng cộng đồng khoa học và hệ sinh thái hợp tác toàn cầu là điều kiện quan trọng cho sự phát triển bền vững của công nghệ lượng tử.
Một số công trình lý luận nền tảng có thể làm cơ sở xây dựng mô hình VQTEM
– Carlota Perez (2002): Giải thích sự hình thành hệ sinh thái của các cuộc cách mạng công nghệ và vai trò của thể chế trong quá trình chuyển hóa công nghệ thành phát triển kinh tế.
– Henry Chesbrough (2003): Đề xuất mô hình đổi mới sáng tạo mở, nhấn mạnh mạng lưới hợp tác giữa doanh nghiệp, đại học và viện nghiên cứu.
– Mariana Mazzucato (2013): Phân tích vai trò của Nhà nước kiến tạo trong phát triển các công nghệ đột phá và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
– Carl J. Dahlman (nhiều công trình): Làm rõ mối quan hệ giữa tri thức, đổi mới sáng tạo, thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Qua các công trình trên có thể thấy, chưa có nghiên cứu nào đề xuất một mô hình triết học – phương pháp luận tích hợp nhằm mô tả toàn bộ quá trình chuyển hóa từ tri thức lượng tử đến công nghệ, doanh nghiệp, thị trường, thể chế và văn minh. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào một hoặc một số khía cạnh như chiến lược quốc gia, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, quản trị công nghệ hoặc thương mại hóa. Đây chính là khoảng trống mà mô hình Vietnam Quantum Technology Ecosystem Model (VQTEM) và khái niệm Tư duy thực tiễn lượng tử hướng tới bổ sung, bằng cách kết nối các nguồn lực đầu vào, cơ chế chuyển hóa, kết quả đầu ra và mục tiêu phát triển trong một khung lý thuyết thống nhất!
Tài liệu trong nước:
Để lại một phản hồi